Ngu ngơ đi tìm bằng chứng cho Lý thuyết Đa Thông Minh của Gardner

Cùng với phong trào nhà nhà, người người hướng về Tây phương đặng mong cầu chỉ bày và vươn tới chuẩn mực, quá nhiều các phương pháp lẫn cách tiếp cận trên đủ các mặt trận, lĩnh vực được giới thiệu, quảng bá, chào bán,… Giờ các bậc phụ huynh hết lòng hết sức vì tương lai con em chắc hiếm ai chưa từng một lần nghe nói tới nhiều kiểu dạng trí thông minh ở bé.

Lý thuyết Đa Thông Minh của Gardner (Multiple intelligences, MI) khuyến cáo thiên hạ cải thiện không ngừng việc học hỏi: chúng ta biết một số người học hỏi thông qua tiến hành công việc, số khác lại nhờ chuyện đọc sách. v.v… Do vậy, tin rằng người đời có nhiều kiểu thông minh khác nhau, rằng những thông minh của họ như thế thật độc sáng, và rất nên đồng thuận cùng hiện tượng có nhiều phương cách học tập ở trên giảng đường và lớp học.

Nếu giờ tiếp cận vấn đề từ việc tìm kiếm bằng chứng xác thực, liệu có chăng các dạng kiểu thông minh khác nhau như MI mà Gardner xiển dương?

Lý thuyết MI lần đầu tiên được Gardner trình bày năm 1983 trong cuốn sách Frames of Mind, dù về sau thì MI trải qua nhiều chỉnh sửa, thay đổi. Ngay từ 1983, Gardner đưa ra sự tồn tại của 7 loại trí thông minh:

1. Ngôn ngữ (linguistic). 2. Âm nhạc (musical). 3. Logic- toán (logical-mathematical). 4. Không gian (spatial). 5. Cơ thể- vận động (bodily-kinesthetic). 6. Cảm nhận nội tâm (intrapersonal sense of self). 7. Lên nhân cách (interpersonal)

Trong cuốn Intelligence Reframed xuất bản sau đó 16 năm, tác giả Garner thêm một dạng khác là ‘trí thông minh tự nhiên’ (naturalistic intelligence) nhằm trỏ sự thấu cảm đối với các ngoại vật tự nhiên, và ông còn gợi ý một dạng khác: ‘trí thông minh hiện sinh’ (existential intelligence), được xem là khả năng ngập chìm tính tâm linh trong tác phẩm nghệ thuật.

Với phiên bản gần nhất năm 2004, Gardner đề nghị thêm hai dạng nữa là ‘trí thông minh rọi sáng tâm trí’ (mental searchlight intelligence) và “trí thông minh laser (laser intelligence). Gardner tuyên bố, mỗi loại trí thông minh chứa đựng nhiều tiểu dạng thông minh, và mỗi loại thông minh được kiểm soát bởi các vùng não bộ khác nhau, và ông cho biết các khoa học gia Thần kinh “đang trên tiến trình hướng đích về bản chất của các thao tác căn bản trong mỗi dạng trí thông minh“.

Lý thuyết MI của Gardner thu hút sự chú ý của giới chuyên môn, và cơ chừng MI thiếu vắng bằng chứng xác thực. Theo tổng thuật được Waterhouse thực hiện năm 2006, không thấy nêu một nghiên cứu nào hỗ trợ cho độ hiệu lực của MI; Gardner đã cố gắng đáp trả các chỉ trích này từ 2004 như sau:

Lý thuyết MI được ít người say mê trong số các nhà đo nghiệm tâm lý hoăc những đối tượng dựa trên nền tảng tâm lý học khác là bởi vì họ yêu cầu: “đo nghiệm tâm lý hoặc bằng chứng thực nghiệm phải cho phép người ta chứng tỏ sự hiện hữu của nhiều trí thông minh khác nhau”.

Ngay từ 2004, tác giả Chen (được Waterhouse dẫn trong tổng thuật nêu trên) lại thử bênh vực cho sự kiện MI thiếu sự hỗ trợ của thực nghiệm thông qua lời tuyên bố:

“Một lý thuyết tất yếu có giá trị bởi vì nó được hỗ trợ bởi các kết quả của các test thực nghiệm” và “trí thông minh không phải thứ hữu hình để mà có thể đo lường được”.

Đi sâu hơn, tác giả Chen đã chỉ ra 5 điểm gây tranh cãi cụ thể với lý thuyết MI:

  1. MI không có đủ các bằng chứng thực nghiệm thiết yếu
  2. Trí thông minh không phải là đối tượng hữu hình, có thể sờ mó được
  3. MI là các cấu trúc mới đòi hỏi các công cụ đo lường mới
  4. Lý thuyết MI xác định độ hiệu lực của nó thông qua các ứng dụng tại lớp học
  5. Lý thuyết MI mô tả sơ lược kỹ năng nhận thức tốt hơn so với các tiểu thang đo IQ.

Nói tóm, theo cách lập luận của Chen thì có vẻ không có điểm nào  làm cho nhu cầu xác nhận lý thuyết MI là ít cần thiết cả. Dường như MI duy trì nó “đích thị là một lý thuyết” không thể công nhận là có giá trị được (validated), trừ khi các thành phần của lý thuyết được định vị, thiết lập rõ ràng. Khi Gardner tuyên bố rằng ông sẽ không định rõ các thành phần đó, lý thuyết MI khó nghiêng theo hướng đạt độ hiệu lực mong muốn.

Tác giả Chen (2004) cho rằng dẫu lý thuyết MI đạt độ hiệu lực thông qua việc ứng dụng nó, tuy thế, điều ấy không đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu với dữ liệu có cơ sở chắc chắn, vì dạng thức ứng dụng kiểu vậy không cung cấp dữ liệu đáng tin cậy. Sau rốt, không có nghiên cứu nào chứng thực rằng năng lực nhận thức được MI mô tả sơ lược tốt hơn khi dùng các tiểu thang đo IQ cả.

Với kết quả test, liệu tôi đã mắc rối loạn tâm thần XYZ?

Không còn là điều hết sức bí mật hoặc sự gì quá chừng xa xôi cho việc tiếp cận và sử dụng các trắc nghiệm tâm lý lâm sàng khác nhau, cả thông qua hình thức chúng ta tự âm thầm tiến hành trực tuyến trên mạng lưới điểm toàn cầu hoặc được ai đó hướng dẫn rõ ràng nhờ tài liệu, sách vở bằng giấy in. Người làm việc trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ chăm sóc khỏe tâm thần nói chung, nhất là mí bạn sinh viên mới ra trường, thừa tự tin hay tranh thủ xin xỏ test cũng như ưu tiên nhanh nhạy để tận dụng tối đa cơ hội xiển dương nghề nghiệp này như kiểu đang sở hữu một món hàng độc (sic).

Nên không lạ lẫm hay ngỡ ngàng lắm khi có cô gái còn rất trẻ viết thư bảo mình thuộc dạng xác suất rất cao mắc rối loạn lưỡng cực (bipolar disoder) sau khi tự làm trắc nghiệm trực tuyến bằng Anh ngữ; tuy thế, cô học trò trường phổ thông chuyên này cũng hiểu biết ít nhiều để chia sẻ thêm rằng mình không hoàn toàn nghiêm túc khi nhìn vào kết quả…

Trái lại, từng gặp bà mẹ trí thức cuống cuồng vì phát hiện cô con gái 19 tuổi đang bỏ bê học hành, suốt ngày ủ rũ và bất chợt khóc lóc sau khi thực hiện một số trắc nghiệm trực tuyến rồi thấy mình đạt tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn phân liệt cảm xúc (schizoaffective disorder).

Thực tế, một số trắc nghiệm trực tuyến là cực kỳ quá dễ gây lầm lạc. Có một sự khác biệt thông thường rất lớn giữa tri giác của một người về cách thức người đó là và những gì chúng ta gọi các tiêu chí lâm sàng cho một rối loạn tâm thần.

Nếu nhìn vào một câu hỏi kiểu như “Đôi khi tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc”, hầu hết người ta có thể nhớ lại thời điểm có liên quan, họ hạnh phúc hơn ‘bình thường’. Tuy thế, từ quan điểm lâm sàng, hạnh phúc tột độ tìm thấy ở rối loạn lưỡng cực là một triệu chứng nghiêm trọng đang khiến họ mất khả năng… Triệu chứng “tiêu sắm vô tội vạ” là ví dụ khác; một người trưởng thành lành mạnh có thể bị xem là mua đồ kinh khủng khi tiêu hàng trăm triệu đồng cho áo xống, trong khi với rối loạn lưỡng cực thì “tiêu sắm vô tội vạ” lại còn tệ hại hơn, tỷ dụ bệnh nhân vào viện để phẫu thuật y khoa và đã buộc người nhà đem đặt cạnh giường laptop màn hình lớn đặng cập nhật thông tin trên kênh truyền hình mua sắm.

Lựa chọn tốt nhất có thể nghĩ tới nhanh chóng là tìm kiếm lời tư vấn từ một chuyên gia sức khỏe tâm thần; hầu hết các nhà tâm thần học và tâm lý học có thể trả lời các câu hỏi và mối quan tâm của thân chủ mình chỉ trong vài phiên làm việc; điều này đặc biệt quan trọng nếu ta đang trải nghiệm các triệu chứng khiến hàng ngày cảm thấy càng khó khăn để sống hơn.

Nhân tiện, phân liệt cảm xúc là dạng kết hợp tâm thần phân liệt (schizophrenia) với một rối loạn cảm xúc (khí chất) như trầm cảm (depression) hoặc rối loạn lưỡng cực.

Thật không may như với tất các các rối loạn tâm thần và cảm xúc, chẳng có trắc nghiệm nào quen dùng để chẩn đoán hoặc khẳng định sự hiện diện của một rối loạn. Tôi đồ rằng kiểu test bà mẹ trí thức trên dễ chừng là dạng trắc nghiệm tự khai (self-report test) mà cô con gái tìm thấy trên mạng. Các kiểu lượng giá như thế mang nghĩa tầm soát về tính khả thể của một rối loạn, song có rất nhiều lý do cho thấy tại sao các test ấy không đáng tin cậy và thường mới đưa ra được các chỉ dấu rất thô sơ trên tiến trình lượng giá chuyên nghiệp mà thôi.

Quả đúng là giới chuyên môn sức khỏe tâm thần dựa vào các triệu chứng thân chủ tự khai để xác lập một chẩn đoán; tuy vậy, nhờ việc đặt các câu hỏi mà họ có thể làm rõ ràng và khám phá các trải nghiệm của bệnh nhân, rồi phán đoán các triệu chứng đã thu thập; các trắc nghiệm trực tuyến hoặc làm trên giấy in thì không đạt đến được vậy. Do đó, một số người có thể trả lời các câu hỏi đăng tải lên theo các cách dễ thêm vào một điểm số dẫn đến một vấn đề sức khỏe tâm thần, đơn giản bởi vì các cách thức họ diễn giải những gì được hỏi, hoặc ý nghĩa từ các lựa chọn đề nghị.

Hơn nữa, còn có vấn đề của việc chồng lấn các triệu chứng tâm thần. Rất nhiều chẩn đoán khác biệt có thể bao gồm trong một số khía cạnh mà cô nữ sinh viên trải nghiệm mắc phải. Tỷ dụ, trong khi tâm thần phân liệt gồm các ảo giác (các trải nghiệm cảm quan sai lệch) và hoang tưởng (các niềm tin lầm lạc) thì rối loạn trầm cảm nghiêm trọng đôi khi cũng chứa các triệu chứng nặng nề này. Các vấn đề khí chất (cảm xúc), như trầm cảm và lo âu, thường là các chẩn đoán tâm thần phức tạp. Chính sự rối rắm của các chẩn đoán tâm thần nên điều quan trọng là nữ sinh viên cần được lượng giá bởi một chuyên gia sức khỏe tâm thần có bằng cấp. Chẩn đoán chính xác thường rất khó khăn (và lắm khi bất khả), song cơ bản là biết liệu cô con gái có đang trải nghiệm một số triệu chứng ám chỉ tâm thần phân liệt hay không.

Thuốc dùng điều trị tâm trạng trầm uất thuộc dạng khác so với các loại dược lý sử dụng để điều trị các triệu chứng loạn thần, vốn không phải là nguyên nhân gây ra trầm cảm. Với những căn bệnh như tâm thần phân liệt và rối loạn phân liệt cảm xúc, thuốc men là bước cần thiết đầu tiên, và sẽ đòi hỏi chỉ định của một bác sĩ tâm thần học.

Thích đáng nhất vẫn là bác sĩ tâm thần chuyên khoa nên tôi đã khuyến cáo bà mẹ trợ giúp và động viên con gái mình hẹn gặp một bác sĩ tâm thần. Nếu cô ấy được chẩn đoán bởi một chuyên gia tâm thần thì ông bác sĩ này sẽ đưa ra các chỉ định hoặc đề xuất phương án điều trị phù hợp. Nếu không ổn, đây là thời điểm để thử tìm cách tiếp cận khác…

Sự tỏ tường và độ tin cậy bỏ qua định hướng mơ hồ, vô cớ

Trên trang tìm kiếm google.com đang minh họa hình vẽ quen thuộc của test Rorschach, nhấp chuột vào đường dẫn ‘chia sẻ điều trông thấy’ thì hiện lên dòng chữ thông báo hôm nay là sinh nhật lần thứ 129 của Hermann Rorschach.

Vậy, tự hỏi mình mong đợi gì đây lúc này? Dường như tất cả chúng ta sẽ có một số ước muốn khá căn bản, và sẽ phức tạp ít nhiều khi mình mong đợi một số thứ không giống những người khác. Chưa hết, đôi điều đâu có chịu diễn ra theo ý định; vì thế, có thể chúng ta đi vào giai đoạn khủng hoảng, tùy kịch bản mà thậm chí đưa đối tượng đến cả sự lựa chọn gặp nhà tham vấn và trị liệu tâm lý… Điều gì xảy đến nếu chúng ta hành động nhờ thử vượt thoát ra ngoài một số kỳ vọng và chuẩn tắc bị đè nén bấy lâu trong đời?

… Quay lại với nỗi kính sợ, kinh hoàng một thời test Rorschach có thể vén lộ. Cấu trúc độc đáo của test khiến nó tiếp tục gây tranh cãi đa phần bởi tính biểu tượng hóa. Là một trong số trắc nghiệm hiếm hoi còn duy trì được khởi thảo từ truyền thống phân tâm và cuộc đấu khẩu chủ yếu về độ hiệu lực của các ý tưởng mang hơi hướng Freud.

Ảnh hưởng của các ý tưởng này có thể được phản ánh rõ nhất qua cách thức sử dụng nó. Một kiểu dạng test ‘phóng chiếu’ mà người làm test nhìn các tấm ảnh rồi cho biết ấn tượng. Nhà tâm lý viết xuống những gì đối tượng nói về mỗi bức ảnh rồi diễn giải điều đối tượng nói và thể hiện. Các diễn giải ấy được cho là đem lại bức tranh về nhân cách người, được định khung trong các khái niệm theo trường phái phân tâm học Freud.

Nguyên bản test Rorschach thì khá buồn cười, song vượt thời gian nó được tâm lý gia John Exner phát triển với ‘hệ thống nhận hiểu’ đủ cho phép nhà lâm sàng độc lập đi tới các kết luận tương tự khi xử lý cùng các đáp ứng. Thậm chí, độ tin cậy của test gây tranh cãi và bị xem là thổi phồng quá mức, thậm chí, ngay cả khi tin cậy chăng nữa, cơ chừng nó không tương quan tốt lắm với các công cụ đo lường tâm trí khác và mang xu hướng đặc thù trong ‘chẩn đoán’ các động thái mang tính tâm thần phân liệt ở người hoàn toàn bình thường.

Hầu hết test tâm lý đều dựa trên nguyên tắc là người làm test không hề biết trước gì hết về chất liệu tạo ra test; thuật ngữ chuyên môn gọi là sự an toàn thông qua trạng thái mơ hồ và khó hiểu nhằm đảm bảo độ hiệu lực. Các công ty chuyên cung cấp test ngày nay chỉ bán cho người hành nghề có bằng cấp với giá cao và đảm bảo bản quyền. Song mô hình này quá dễ đổ sụp trong thời đại internet vì nó có thể góp phần vi phạm hợp đồng để đưa test ra công khai.

Các nhà tâm lý do đó, cần khởi sự thiết kết test sao cho chất liệu test không gây nên tác động lớn lao đối với sự trình bày, mà điều này đòi hỏi một sự chuyển đổi ý nghĩa trong cách suy tư và lượng nghiên cứu ghê gớm hiện tại nhằm đem lại độ hiệu lực của các test.

… Một đời sống không đối diện với nguy cơ thất bại không phải là cuộc đời sống tràn đầy. Đặt để các mục tiêu trong những cách đo lường khả thể. Dù chỉ có vẻ là các bước vi tế, nhỏ bé thì chúng là tiến bộ. Trước khi mình biết đến niềm vui ấy, các tiếng vọng của thất bại sẽ mờ dần. Cả hai suy tư khó thể tồn tại trong cùng khoảnh khắc và mỗi khoảnh khắc là điều duy nhất mình có quyền năng dùng để thay đổi.

Nhiều người nghĩ rằng mình có thể chỉ việc ngừng ngắt ngay suy tư về sự thất bại. Song bất khả tiến hành điều đó. Mình nên thay thay thế suy tư tiêu cực bằng suy tư tích cực. Thái độ, suy tư và hành động sẽ tống đẩy mọi thứ xấu xa, tồi tệ đó văng khỏi cối xay nghiền nát. Mỗi khoảnh khắc mình thành công, đó là khoảnh khắc mình ít nuối tiếc hơn.

Do đó, cố gắng thất bại thì sẽ đúng thế thật; nếu gắng thử thành công, mình có thể hoặc không thể thất bại. Là câu chuyện 50/50, chẳng quá chênh lệch tỷ lệ. Và mình sẽ dám đặt cược, đánh cá. Tương tự, bài báo trên New York Times thật thú vị, nó chứa đựng một mức độ cân bằng giữa chuyện hay ho, chuyện xấu tệ, và chuyện ngớ ngẩn. Và lần nữa, câu chuyện nói chung còn nhắc nhở các vị cài đặt tâm trí chuyên việc cung cấp dịch vụ test thu tiền, bất chấp tính củ chuối của test.

Năng lực suy tư về các nguyên nhân và các mối liên quan là điều hết sức thiết yếu, và luôn luôn được thừa hưởng tiến hóa từ tổ tiên; tỷ như, chúng ta cần biết một loại hạt nào làm mình ốm, hoặc kiểu đám mây ra sao dự báo thời tiết xấu… Vì vậy không đáng ngạc nhiên chúng ta tự động tạo ra đánh giá theo dạng này. Chúng ta có các trực giác mạnh mẽ về những thứ nào đi cùng nhau, trực giác đó ùa tự nhiên tới tâm trí, thường sau rất ít ỏi trải nghiệm. Điều ấy tốt cho việc ra các quyết định trong một thế giới mình thường không đủ thời gian để suy nghĩ trước khi hành động, song với các tác dụng phụ chứa một số lỗi có thể đoán biết được.

Một lỗi thế gọi là “tương quan ảo ảnh“, một hiện tượng hai vật dường như được xem là có liên quan nhau song kỳ thực thì không. Trong một thực nghiệm cổ điển, người tham gia được đề nghị xem xét các điển cứu giả của nhà tâm thần học về các bệnh nhân đáp ứng với test giọt mực Rorschach. Một số báo cáo ghi nhận bệnh nhân là đồng tính, và một số thấy họ nhìn qua test những điều như áo quần phụ nữ hoặc các hạt cúc áo. Báo cáo được chuẩn bị đảm bảo không có liên quan chắc chắn nào giữa ghi nhận của bệnh nhân và đáp ứng hình test, song những người tham gia thực nghiệm– dù được huấn luyện hay tay mơ trong tâm thần học– đã báo cáo hết sức mạnh mẽ (song sai lầm) mối liên kết giữa các dấu hiệu trong test Rorschach và bệnh nhân đồng tính.

… Câu hỏi vẫn còn đây: cuộc sống quá ngắn ngủi? Bất luận thế nào, mình không vội vã. Quá ngắn với nỗi buồn bã của ta? Nào hoàn toàn thế. Chúng ta không thể đợi chờ vì hạnh phúc. Vậy khi nào thì đời sống ngắn ngủi? Nó chỉ quá ngắn ngủi khi đầy ắp các nuối tiếc vàng vọt, tơi tả. Song nếu mình có thể giữ các giấc mơ sống còn, quá khứ sẽ rớt lại và mình có thể tung cánh hướng tới một tương lai ấm áp ánh mặt trời hơn.

J. Soi (26): Thực ra thì xin chân thành cảm tạ vì không còn gì

Thực ra chả sức là...
Thực ra chả sức là…

Phát biểu thẳng tưng ngay là hơi cú; cái sự khó chịu vừa đủ để những mầm non mới nhú lên đã bị phạt đền đến nơi đến chốn liền, trong ồn ào quá lố.

Nói “an toàn” và hệ lụy.  Cơ chừng chuyện này xuất hiện từ giả định rằng điều gì đó hiếm hoi vì nó thông dụng và mọi người nắm giữ nó. Và chúng ta biết nếu điều gì đó là bình dân thì đấy chính là chỉ dấu cho phẩm chất của nó.

Thử tưởng tượng một kịch bản mình bị hỏi một vấn đề và đã chọn câu trả lời sai rõ ràng, chỉ bởi vì những người khác cũng làm tương tự?

Thực sự, điều đó có thể xảy đến với mình. 75% đối tượng tham gia thực nghiệm năm 1951 của Solomon Asch đã chọn câu trả lời sai hiển nhiên chí ít một lần trong suốt thời điểm tiến hành.

Nhờ các diễn viên thuê mướn, tác giả thực nghiệm đã ứng dụng sức ép đồng đẳng tới các đối tượng tham gia và làm tăng con số trả lời sai từ 3% (nhóm đối chứng) lên 32% hết sức ấn tượng.

Hiệu ứng của cái gọi là ‘chứng thực về mặt xã hội’.

Tưởng tượng ảnh hưởng của nó trong điều kiện khác, khi không chắc chắn được sự lựa chọn đúng đắn… Tỷ dụ, mình không biết có nên cười phá lên khi nghe một đoạn hài tình huống (sitcom). Rồi thình lình thấy các gã vô hình ở hậu cảnh chợt phá lên cả tràng. Và mình rất tự động khởi sự tưởng thưởng nó buồn cười thật.

Và đấy chính xác cùng lý do tại sao những lời khai nhận lẫn tóm tắt thuật lại ảnh hưởng đến bản thân: bởi vì mình không ngừng quan sát những gì kẻ khác làm. Thực sự, đó là những gì bạn và tôi tiến hành từ thuở mới sinh ra trên đời.

Bởi trò bắt chước nhau, chúng ta học hỏi những kỹ năng cơ bản lẫn nâng cao ngõ hầu tồn tại ở đời. Mình thực hiện nó với bình diện ý thức? Đôi khi, vâng, song như có thể đoán biết, hầu hết các yếu tố ảnh hưởng tới các quyết định của mình là vô thức. Đó là những đường tắt chúng ta học hỏi và/ hoặc thừa kế nhằm tạo tác nhanh chóng các quyết định. Chứng thực về mặt xã hội cũng rứa.

Giờ thì chắc độc giả biết lý do sự bức bối rồi đấy. Dùng “Thực ra” (actually) thật dở hơi, thiệt tình phải nói toạc móng heo vậy đó. Ai đời nghĩa đen của nó “thực sự” hàm ý điều gì đó đang hiện diện hoặc tồn tại trong thực tế, song nó lại thường dùng hoàn toàn sai lầm để tăng thêm sự hùng hồn, mạnh mẽ cho câu nói.

Vâng, thực ra thì xin chân thành cảm tạ vì không còn gì.

Làm sao để những rung cảm đồng loại đừng rụng rơi theo cái chết?

Tôi từ bỏ thói quen theo dõi tin tức thời sự đã lâu và 10 năm rồi chẳng thèm xem TV nữa nên diễn tiến câu chuyện Boston chỉ biết thêm sơ qua một cách tình cờ.

Hôm nay, liếc thấy tin lật xe du lịch ở Lào làm chết 3 người, tương đương con số tử vong vụ đánh bom vừa nhắc bên Mỹ.

Tôi không muốn thêm rằng số nạn nhân vừa chết ấy là người Việt. Bởi tôi biết, chúng ta thường sinh thói nghĩ tới “thuộc phe mình, trong nhóm, gần nhà, quen biết” và nhờ thế, tự dưng dễ dàng thấy thấu cảm, chia sẻ đau thương cùng các đối tượng mất mát hơn.

Tâm trí nhân loại thao tác theo cách thức, như nghiên cứu chỉ ra, các phần não bộ liên quan với sự thấu cảm (empathy) và cảm xúc khá dễ bị kích hoạt khi chúng ta chứng kiến ai đó thuộc cùng nhóm sắc tộc, dòng giống (race)– đối lập với các thành viên nằm ngoài khác– trong đau đớn.

Điều này tạo nên ý nghĩa cho nghiên cứu từng tiến hành về định kiến vô thức sử dụng các trắc nghiệm liên tưởng hàm ẩn (IATs) vốn dùng dự đoán hành vi đời thực bên ngoài phòng thí nghiệm.

Tin tốt lành là các thái độ tự động của chúng ta thi thoảng có thể uốn nắn được. Nhận thức về những khác biệt giữa các giá trị bình đẳng và các thái độ hàm ẩn của chúng ta có thể gây ra các phản ứng đầy cảm xúc đủ thôi thúc các thay đổi về mặt hành vi, ứng xử và giúp chúng ta làm người biết thấu cảm và vị tha như chúng ta hy vọng trở thành.

Mặt khác, việc thiếu vắng ý thức được kết nối với một sự ngập tràn khủng khiếp các hình ảnh tiêu cực và các kiểu loại hình mẫu rập khuôn từ phương tiện truyền thông thương mại lẫn nền văn hóa đại chúng thừa sức củng cố thêm các định kiến hàm ẩn, đánh giá thấp nhu cầu cần giáo dục và tự nhận thức bản thân (self-awareness).

Trong thế giới hay xảy đến biến cố với quá nhiều bạo lực cùng đau thương như hiện nay thì chúng ta đơn giản có thể không hề cảm thấy thấu cảm mỗi lần một con người ở đâu đó đau đớn hoặc bị giết chết.

Kỳ lạ biểu hiện khá thường gặp này: chúng ta cảm thấy hầu như ngay lập tức một cái gì như sự bị lăng nhục về mặt đạo đức hết sức mãnh liệt rằng, ai đó có thể làm hại vô cùng vớ vẩn những con người chẳng tội tình chi ở Boston, và tuy thế, chúng ta cơ chừng chẳng hạn, không hề dễ dàng thấu cảm với các nạn nhân bị đánh đập tàn bạo ở Pakistan, hầu hết những người vốn nhìn nhận chuyện đánh bom là điều gì đấy thât ngẫu nhiên và rồ dại.

Dĩ nhiên, chỉ là con người nên chúng ta cần tha thứ cho chính mình khi biểu lộ những hạn chế về mặt nhận thức như thế.

Song, thiệt tình, chúng ta cũng phải nhìn ra, trong những khoảnh khắc tương tự vừa nêu bên trên, khi chúng ta dễ dàng cảm thấy đau buồn, tức giận và từ ái mà thường những sự kiện này không thuần túy gợi ra các cảm xúc như vậy, và thôi thúc chính chúng ta túm níu lấy các hậu quả do nó để lại.

Khi chúng ta đọc các tin tức khô khan, vụn vặt hàng ngày công bố về nỗi khổ đau của nhân loại trên khắp hành tinh, khi chúng ta (hiếm hoi lắm) nghe đếm xác dằng dặc về chiến tranh khủng bố (ước tính 122.000 cái chết bạo lực, thường dân ở Iraq), khi chúng ta nhận biết về những nạn nhân vô danh tiểu tốt ở Bắc Waziristan, xin hãy cố gắng chuyển đổi sự thấu cảm chúng ta dành cho Boston để khiến chúng ta cảm nhận sâu sắc, rồi hãy chuyển sự thấu cảm ấy thành hành động thích hợp.

Và có thể nhắc tới những đau thương tang tóc ở Triều Tiên, Miến Điện, Tây Tạng, Trung Quốc và ngay chính đất nước Việt Nam.

Bởi suy cho cùng, chúng ta cùng chung một niềm đau.

Tính cách của nhóm ăn chay?

Chúng ta biết gì về tính cách của những người thuộc nhóm ăn chay nhỉ?

Liệu mình có thể nói chi đây về đối tượng ăn chay như một nhóm? So sánh với những người khác, đấy là nhóm người:

  • Đa phần là nữ, nhiều hơn nam
  • Có học, thậm chí đạt tới mức độ giáo dục cao hơn
  • Nhìn chung còn khá trẻ
  • Về mặt chính trị, được mô tả là yêu môi trường, thiên nhiên xanh, tự do, phái tả, hoặc người vô chính phủ, và hiếm mô tả bản thân như kẻ bảo thủ.

Tính cách ư? Cơ chừng, những người ăn chay thường thể hiện:

  • Cởi mở hơn hẳn đối với sự thay đổi, vui mừng để sẵn sàng thử điều mới mẻ, và lối nhìn ít đậm màu sắc truyền thống
  • Kém ổn định về mặt cảm xúc, nhìn nhận bản thân theo kiểu khó giải quyết thật bình thản các căng thẳng diễn ra trong đời thường
  • Dễ hòa hợp với tha nhân, ít áp chế, dẫn dắt và chẳng thèm khát việc gây ảnh hưởng tới những người xung quanh
  • Tự tin xã hội không cao, đôi khi lưu giữ các ý kiến biểu đạt hoặc không bộc lộ các yếu tố nguy cơ.

Vấn đề đặt ra: liệu người ăn chay sẽ nắm lấy bất kỳ thuận lợi nào trong bối cảnh hiện tại hay không.

Cùng lên xe bus, chọn chỗ ngồi đi tàu lửa, lái trên đường như chiếm không gian nhà cửa: chủ đề sử dụng phương tiện giao thông (2)

Như đã đặt để hôm trước rồi, giờ chuyển sang giới thiệu việc chọn chỗ ngồi trên tàu lửa.

Các công ty đường sắt rất nên cân nhắc thiết kế mở rộng các toa chứa lớn hơn với ghế ngồi cặp đôi và nên hạn chế bố trí các hàng, dãy ghế ba cái một. Đó là khuyến cáo của các tác giả sau khi tìm hiểu thấy rằng không phải tổng số hành khách trên một toa tàu dẫn tới cảm giác bị bó buộc mà đúng hơn chính là số lượng người gần sát, kề bên chúng ta; lý do giải thích tại sao nhiều hàng ghế giữa thường để trống trong các hàng, dãy ba cái một.

Một trăm ba mươi chín người đi làm bằng tàu lửa theo vé tháng (commuters) theo lộ trình New Jersey đến Manhattan, New York City đã được tiếp cận sau một hành trình quen thuộc.

Các nhà nghiên cứu sử dụng hai công cụ đo sự chen chúc: mật độ toa tàu nói chung, dựa trên tổng số hành khách trên toa chia cho số ghế ngồi; và mật độ gần gũi, dựa trên tổng số hành khách trên toa tàu ở mỗi dãy ghế, cân đối với số ghế ngồi trong dãy đó.

Mật độ gần gũi được phát hiện là có một tác động đích thị lên tâm trạng của hành khách, khả năng tập trung (dựa vào nhiệm vụ kiểm chứng việc đọc) và các mức độ căng thẳng tinh thần (đo qua miếng gạc cortisol). Ngược lại, sự chen chúc nói chung trên toa tàu không liên quan chút chi lắm với bất kỳ các yếu tố vừa nêu.

Bên cạnh việc đề nghị tránh bố trí các dãy ghế ba cái một, nhóm tác giả nghiên cứu còn khuyến cáo người thiết kế giao thông công cộng nên tính tới cả “các phạm vi chống đỡ” như là chỗ để dựa tay và các bàn nhỏ đặt giữa ghế ngồi ngõ hầu ngăn ngừa hành khách đi tàu cảm giác rằng không gian riêng tư, cá nhân của họ đang bị đe dọa.

Đọc nghiên cứu này xong, tôi hơi chút bâng khuâng nuối tiếc khi nhớ lại cảnh tượng những ngày tháng gần Tết Nguyên Đán chen lấn, xô đẩy nhau lên tàu về quê song mức độ tin tưởng lại không hề giảm xuống tệ hại như cảnh tàu bè tuy đỡ phần trống trải, lạnh lẽo và tốc hành bây giờ.

Trong sự xoắn bện mơ hồ của nỗi sợ hãi và bối rối…

Vụ việc hàng trăm học sinh bị rút máu không khó để quy trách nhiệm đầu tàu cho đại học Vinh cũng như dễ dàng nhìn ra rằng nó gắn chặt hết sức sâu xa với vấn đề đạo đức trong nghiên cứu.

Điều khiến tôi quan tâm khi tình cờ đọc thấy thông tin trên là cảm nhận nguy cơ ác cảm (loss aversion)– thích lảng tránh những sự mất mát, thiệt thòi để hướng tới của kiếm được, lợi lạc– một khuynh hướng hết sức quyền uy.

Sự kiện này tiếp tục phản ánh tri nhận của giới bác sĩ y khoa về đối tượng bệnh nhân (tiềm năng).

Có nhiều thứ đối với nền y khoa tốt lành hơn là một kỹ thuật viên giỏi giang.

Biết thật rõ ràng cách thức thông tin được trình bày trong các quyết định ngầm sẵn định kiến có thể bổ ích cho cả bác sĩ lẫn bệnh nhân ngõ hầu kiến tạo nên nhiều quyết định hữu lý hơn hẳn.

Tôi cũng khá băn khoăn rằng liệu hiện diện bất kỳ lý do nào khiến người ta không có nguồn năng lượng để lo lắng cho tha nhân? Sở hữu lòng từ bi (compassion) và thấu cảm (empathy) vì con người, chúng sinh đâu đồng nghĩa mình sử dụng nó. Lòng từ bi cũng tựa như tình yêu vậy: càng cho đi nhiều thì mình càng có thêm nhiều để cho đi.

Tâm lý học vốn hay sử dụng rộng rãi với độ tin cậy cao trắc nghiệm Big Five để đánh giá các nét nhân cách căn bản. Nét nhân cách lớn nhất của Big Five là sự tận tâm (conscientiousness). Nghiên cứu chắc chắn và nhất quán cho thấy nét tính cách này là đòi hỏi tối thiểu cho sự thành công trong công việc. Theo đó, người đạt điểm số cao ở nét nhân cách này được tri nhận là đối tượng mang tính kỷ luật bản thân (self-discipline), hành động đầy tinh thần trách nhiệm, mục tiêu hướng tới thành tựu, có óc tổ chức và  đáng tin cậy.

Chúng ta không mong đợi các bác sĩ y khoa cũng là nhà tâm lý học. Song chúng ta có thể kỳ vọng việc tiếp tục giáo dục y tế có thể cung cấp các kỹ năng truyền thông và những sự thấu hiểu tâm lý cần thiết đặng trợ giúp các bác sĩ ngành y trở thành kiểu dạng người mà họ muốn được là…

Ở đâu đó, trong tôi và quanh đây

Yên vị trên chiếc ghế đặt cạnh cửa sổ, trước mặt lòa xòa bóng cây khế dưới ánh đèn điện và trông xuống ngay cạnh là ngã tư đường phố có hàng bánh cuốn nổi tiếng; sực nhớ tí chút văn chương nên cười thầm mà khoe với nữ nhân ngồi cùng rằng cần đọc tên quán café là “Mi – môi – xa”…

Người giận dữ thì khác biệt. Mình có thể gặp tình cờ vài ba viễn tượng giận dữ. Cơ bản, họ tương tự nhau, song khác biệt so với phần còn lại của chúng ta. Nỗ lực vào cuộc nhằm xử trí, điều chỉnh một người tức giận giống hệt như đang xử trí, điều chỉnh một người bình thường chỉ làm tăng thêm sự giận dữ. Đây chắc chắn là một lỗi lầm, bởi vì sự tức giận luôn mang theo bên mình thực tiễn riêng có. Một khách hàng tức giận chẳng hề kém tắm, ít nhiều giảm giá trị tí chút gì so với bất kỳ khách hàng nào không tức giận. Thực tế, cô í ở trên đường cong riêng của chính bản thân mình.

Khi người mẹ cùng cậu con trai bước vào phòng tập yoga, làm sao tôi xác định chính xác ngay được mức độ tức giận. Sự nhũn nhặn dễ thấy của mẹ, vẻ bất cần mải mê cắm tai nghe nhạc cậu trẻ vô hình trung đã cố gắng giấu biệt nỗi đớn đau phải sống chung với chồng, với ông bố thường xuyên nổi giận và đổ lỗi cho chị cùng mọi người xung quanh… Bất ngờ là sự bất lực của người phụ nữ tươi xinh (cứ cười mỉm khi đang hoàn thành bảng kiểm tình huống gây tức giận) thổ lộ mức chịu đựng do chứng mất ngủ và sự mất tập trung.

Và còn quá nhiều đối tượng cảm thấy tức giận, bởi không đạt được điều mình mong muốn hoặc do sự vụ xảy đến trái ý họ; những quý vị phụ huynh nhanh chóng lờ đi đề nghị diễn tả sự hụt hẫng và cảm giác bị đe dọa…

Thanh thoát, tĩnh tại, đích thực bình lặng không chủ yếu phụ thuộc bối cảnh, nơi chốn, lứa tuổi. Cô gái lớp 8 bảo mình lâu rồi chẳng hề nỗi giận chi cả; nhờ thiết lập tương giao sâu xa, cô mới lờ mờ hiển thị hóa niềm đau khó nắm bắt về mối tình với cậu bạn trai từng một thời mong đợi luôn là ngọn lửa ấm áp, an toàn giờ nguy cơ đang hóa thành đám than nguội dần. Nghiên cứu cho biết, người mắc trầm cảm khó chỉ ra sự khác biệt giữa các cảm xúc gây khốn khổ khôn nguôi.

Ở đâu đó, trong tôi và quanh đây vẫn lưu giữ ít nhiều ao ước tình hình thay đổi khác đi, hoặc còn tiếp tục chưa sẵn sàng tâm thế chấp nhận thế giới như nó đang là

Nghèo đói và sức khỏe tâm thần– đường đi ẩm ương chính do những gì không được thấu hiểu có thể gây tổn thương

Những năm tháng thuộc thế kỷ XXI rồi mà sao truyền thông Việt Nam vẫn cứ vô tư, mê mải khai thác chủ đề thân phận nghèo đói và người mắc bệnh tâm thần mang hơi hướng bi hài để câu khách.

Tâm lý học Xã hội xưa từng có nghiên cứu cổ điển cho thấy tính định kiến và sự cố tình lựa chọn thông tin trong việc dùng đồ hình giai tầng xã hội để thiết lập, hình thành ấn tượng về một đứa trẻ. Theo đó, các đối tượng xem băng vidéo được dẫn dắt tin rằng cô bé xuất thân từ gia đình thu nhập thấp đã thể hiện bài kiểm tra có vẻ kém cỏi, so với chất lượng bài kiểm tra khi các đối tượng tin là cô bé thuộc tầng lớp cao hơn.

Sự nguy hiểm trong việc gán nhãn và tri nhận xã hội vốn thường ảnh hưởng sâu xa tới bản thân, vượt ngoài sự tưởng tượng của chúng ta rất nhiều.

Tổ chức Y tế Thế giới đã mô tả nghèo đói là nguyên nhân lớn nhất tạo nên đau thương cho nhân loại. Người sống trong nghèo đói hàng ngày phải đưa ra các quyết định hết sức nghiêm trọng và khó khăn mà điều đó lại đòi hỏi nỗ lực ý chí vô cùng vô tận.

Sức khỏe tâm thần tệ hại có mối dính kết phức tạp với tình trạng nghèo đói, nhất là khi nhu cầu tiếp cận các nguồn lực thích đáng và việc được chăm sóc về mặt tâm lý không hề thỏa mãn, đạt tới.

Cho dẫu câu trả lời cho những vấn đề về phương thức liên hệ hai chiều giữa sức khỏe tâm thần tồi tệ và nghèo đói tuyệt chẳng hề đơn giản chút nào, song rõ ràng mỗi một chúng ta có thể góp phần giải quyết.

Vậy, chúng ta có thể làm được những gì đây? Kiểm điểm lại thái độ và hành vi của chính mình đối với những đối tượng có thu nhập tài chính thấp hơn hẳn. Tiến hành các công việc thiện nguyện hướng về các tầng lớp dân cư phải chịu thiệt thòi, bất công trong vùng mình đang sinh sống.

Một trong những cách thức tốt nhất nhằm thay đổi thái độ và sự định kiến là thông qua hiểu biết những gì khiến mình e sợ hoặc những gì mình không biết, không hiểu. Tiếp xúc cá nhân với người nghèo giúp mình ít đổ tội cho họ về tình huống hiện tại, so với khi mình giữ khoảng cách.

Nếu không có thời gian làm thiện nguyện thì mong quý vị hãy cân nhắc việc hỗ trợ cho các tổ chức họat động bất vụ lợi tại địa phương bằng thực phẩm, áo quần, ủng hộ thùng phước sương.

Nên nhớ rằng, thực hiện bất kỳ các tùy chọn nêu trên sẽ góp phần cải thiện sức khỏe tâm thần của mọi người, bao gồm của cả chính bản thân mình nữa đấy.