Nhắn (17): Người tài trí lưu ý

Và đây là là dòng chữ lật úp mạnh mẽ nhất: sự thông minh dường như khiến mọi thứ trở nên tồi tệ hẳn đi. Các khoa học gia đề nghị sinh viên tiến hành bốn thang đo “mức độ tinh tế về mặt nhận thức”. Như họ báo cáo trong bài, tất cả bốn thang đo đều cho thấy các mối tương quan đồng biến, ” chứng tỏ rằng những người tham gia càng có mức độ tinh tế về mặt nhận thức bao nhiêu thì càng biểu lộ các điểm mù định kiến rộng rãi hơn bấy nhiêu.”

Xin đừng tự mãn, thỏa chí.

Nhắn (14): … và không được điên

“Tôi không thể hiểu, trái tim điên…”

Tháng năm, ký ức và bối cảnh có thể làm mọi thứ bị xáo trộn, xóa nhòa và đôi khi cái nổi bật lại thuộc về những gì bất định danh tính, khó lý giải tận cùng.

Khi các nhà nghiên cứu xem xét tới cách thức người lớn tuổi hồi tưởng mọi thứ trong đời sống hàng ngày, họ khởi sự tạo ra một bức tranh khác hẳn về những khó khăn người ta trải qua với trí nhớ khi đối tượng già đi.

Lúc kiểm tra trong phòng thí nghiệm và không có gì dựa vào ngoài trí nhớ riêng có, những người trẻ trưởng thành nhìn chung làm tốt hơn hẳn người già.

Đáng chú ý, cùng các nghiên cứu ấy song được thực hiện trong bối cảnh thế giới thực thì người già thảng hoặc thực hiện tốt hơn nhiều người trẻ ở những điều như nhớ các cuộc hẹn hoặc thời điểm cần uống thuốc.

Tự kiểm bản thân về Nhân cách Ái kỷ

Ta yêu mê mình đến mức nào vậy nhỉ?

Bên dưới là kết quả, do tò mò nhân cách Ái kỷ của bản thân ghê gớm quá không.

Vào đây, nếu bạn muốn thử…

Điểm số: 6/40. Tính trung bình thì thường khoảng 15,3.

Điểm số của 7 thành phần cũng được xác định trong trắc nghiệm này.

Thẩm quyền (Authority)

25%

Tự đủ đầy, ổn thỏa (Self-sufficiency)

17%

Người cõi trên (Superiority)

40%

Thói khoe khoang, phô trương (Exhibitionism)

14%

Lòng vụ lợi, lạm dụng (Exploitativeness)

0%

Tính phù phiếm (Vanity)

0%

Sự trao ban, cho phép (Entitlement)

0%

Ảo ảnh giới tính

Nhìn vào hai hình trên, bạn đọc thử đoán xem đâu là khuôn mặt đàn ông và đâu là khuôn mặt phụ nữ?

Đừng vội đọc tiếp đoạn dưới nếu bạn chưa kịp đưa ra quyết định riêng nhé.

Đây là câu trả lời đúng kèm giải thích lý do.

Hầu hết mọi người đều nhìn khuôn mặt bên trái là phụ nữ, khuôn mặt bên phải là đàn ông. Nếu cũng nghĩ tương tự thế thì lựa chọn của bạn đã sai rồi đấy.

Nếu bạn cho khuôn mặt bên trái là đàn ông, câu trả lời vẫn không đúng!

Sự thật: không hề có khuôn mặt đàn ông hay phụ nữ đích thực, rõ ràng nào trong minh họa trên.

Hai hình đều là ảnh thuộc dạng lưỡng tính (androgynous: sở hữu cả các nét tính cách ở nam lẫn nữ). Khuôn mặt phía bên trái (thường được tri nhận là phụ nữ) thể hiện ý đồ cố tình tăng thêm mức độ đối nghịch so với khuôn mặt bên phải (thường được tri nhận là đàn ông).

Ảo ảnh như thế biểu lộ rằng đối nghịch (contrast) là dấu hiệu thị giác chủ yếu trong cách thức con người xử lý giới (sex) của khuôn mặt; mức độ đối nghịch càng cao thì càng được xem như ẻo lả, đàn bà (effeminate) hơn.

Thực tế, cơ chừng chị em kỳ công khai thác và thổi phồng ghê gớm dấu hiệu thị giác này hàng ngày thông qua chuyện trang điểm và dùng các đồ mỹ phẩm khác cốt nhằm muốn mình hiện diện như yểu điệu, thanh nhã và xinh đẹp hẳn lên.

Mệt mỏi khi làm việc quá mức: nhìn kỹ để hiểu rõ

Thường chúng ta cho rằng một người lao động “mệt mỏi khi làm việc quá mức” (burn-out) là người đã miệt mài với công việc trong một thời gian dài. Một công nhân trải nghiệm trạng thái mệt mỏi khi làm việc quá mức dễ bị kiệt sức về mặt cảm xúc.

Các cá nhân này thể hiện động cơ thấp và thiếu năng lượng dành cho công việc (Spector, 2008). Tuy thế, thực tế có nhiều kiểu mệt mỏi do làm việc quá mức.

Bảng kiểm của Maslach (MBI) là thang đo hay được sử dụng nhằm xác định sự mệt mỏi khi làm việc quá mức, đã chia hiện tượng này thành 3 thành phần:

  • Kiệt sức về mặt cảm xúc (emotional exhaustion): thấy mệt lử, phát ngán về công việc (có thể dẫn tới chuyện bỏ việc, vắng mặt khỏi công ty).
  • Sự tan rã nhân cách (depersonalization): đang tiến triển một trạng thái nhẫn tâm, không thèm để ý đến, thậm chí có thái độ thù địch đối với người khác (thân  chủ hoặc đồng nghiệp).
  • Thể hiện bản thân yếu kém đi hẳn (reduced personal accomplishment): thấy mình không hoàn tất nổi bất kỳ điều gì khi làm việc; điều này dẫn tới một trạng thái thiếu vắng động cơ và tiến hành sự vụ kém cỏi.

Một thang đo khác là Bảng hỏi Kiểu phụ Lâm sàng về Burnout (BCSQ-36) cũng chia hiện tượng này thành 3 loại:

  • Dạng “điên cuồng” (frenetic) mô tả các đối tượng quá hoài bão và dấn thân đến độ hy sinh sức khỏe và đời sống riêng cho công việc.
  • Dạng “không cảm thấy thách đố, thách thức” (underchallenged) mô tả các đối tượng thờ ơ, vô cảm và chán ngán công việc, người không tìm thấy sự phát triển cá nhân trong công việc đang làm.
  • Dạng “mòn mỏi” (worn-out) mô tả các đối tượng xao nhãng, chểnh mảng luôn cảm thấy ít khả năng kiểm soát được kết quả công việc và những nỗ lực không được đánh giá đúng mức.

Trong một nghiên cứu do một trường đại học ở Tây Ban Nha tiến hành (2011) với 409 người lao động đã khám phá ra rằng, những đối tượng nào làm việc trên 40 giờ/ tuần thì rất dễ mắc nguy cơ thuộc dạng “điên cuồng” cao nhất.

Họ phát hiện, ban quản trị và người quản lý hay bị mệt mỏi vì làm việc quá mức dưới dạng “không cảm thấy thách đố, thách thức” nhất, so với các bộ phận giảng huấn (teaching) và nghiên cứu.

Nhóm tác giả nghiên cứu vừa nêu còn chỉ ra, người lao động có trên 16 năm phục vụ thường dễ sa vào dạng “mòn mỏi”, so với các đối tượng làm việc chưa được 4 năm.

Như thế, cần chú ý rằng, dạng “điên cuồng” dính dáng tới số giờ làm việc mỗi tuần. Dạng “không cảm thấy thách đố, thách thức” thì liên quan với kiểu nghề nghiệp, còn dạng “mòn mỏi” phản ánh hiệu quả cộng dồn theo thời gian với đặc thù của một tổ chức, công ty nào đó.

Có hai phương thức xử lý khá rõ ràng để làm giảm thiểu sự mệt mỏi khi làm việc quá mức.

Một là đi nghỉ dưỡng (Fritz & Sonnentag, 2006), dù biết rằng sau vài tuần không đi làm thì khi trở về nhiệm sở, cảm nhận về sự mệt mỏi thái quá này thường quay trở lại.

Thứ hai, các giám sát viên (supervisors) cung cấp sự hỗ trợ cảm xúc cho người lao động thông qua phản hồi tích cực (positive feedback) và các cuộc trao đổi, thảo luận về những khía cạnh tích cực trong công việc (Kahn, Schneider, Jenkins-Henkelman, & Moyle, 2006).

Ngấm điều bó tay, thấy tự mình khó loay hoay lo liệu được

Đó là nội dung tôi cố tìm kiếm câu chữ để diễn đạt nghĩa cụm từ “learned helplessness“– một thuật ngữ do nhà tâm lý học Martin Seligman tạo ra sau khi thực hiện lọat thực nghiệm nổi tiếng.

Trong một thực nghiệm, một người chăn cừu Đức không ngừng rên rỉ nơi góc phòng nhỏ bằng khung kim loại vì thụ nhận các va đập đau đớn. Con chó dù có thể di chuyển dễ dàng tới góc khác không có cú sốc nào, song nó lại chẳng hề nhúc nhích.

Nguyên do, con chó ngấm trạng thái không nơi nương tựa, chẳng thể làm gì được từ thực nghiệm trước đó. Vài hôm rồi, một bộ đai yên đã khống chế, kiềm giữ con vật. Nó không được tự do, cũng không thể thoát khỏi những cú sốc đau đớn. Con chó nhận ra rằng chẳng còn cách nào cả; vô phương chấm dứt cơn đau, tuyệt không có lựa chọn gì hết, và thôi điều chỉnh, sắp xếp nữa.

Nơi chốn nào trong đời ta đang bị mắc kẹt? Bạn đang đau đớn? E ngại cất bước, chuyển đi?

Bạn cần kiểu quan tâm, chăm sóc nào? Góc khác của căn phòng đang đợi bạn đấy.


Vấn đề chậm nói, hội chứng tự kỷ và những gì bố mẹ thực sự muốn khi trị liệu ngôn ngữ cho trẻ

Nếu hỏi – đáp này không phải là sự ủy quyền viết hộ, nhầm tên, lỡ lời thì nó quả thật minh họa khá trêu ngươi cho thành ngữ  “mua danh ba vạn, bán danh ba đồng“; đồng thời, còn khiến ta bần thần quan ngại trước thực trạng chuyên môn và chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần của nước nhà.

Con trai tôi đã 3 tuổi. Hồi nhỏ, cháu phát triển bình thường, ít quấy khóc. Tuy nhiên, cháu chậm nói, khoảng 2 tuổi cháu mới bập bẹ được vài từ, đến nay cũng chỉ nói được những câu ngắn, chưa đầy đủ. Khi nói chuyện, cháu cũng thường cúi gằm mặt.

Tôi có nghe nói đến việc trẻ chậm lớn có thể mắc bệnh tự kỷ. Nhưng ông bà nội và chồng tôi lại ra sức phản đối, cho rằng cháu phát triển bình thường, rằng tôi “trù úm” con. Vậy một đứa trẻ như thế nào thì bị tự kỷ?

***************************************

Tự kỷ là những rối loạn phát triển của não. Trẻ tự kỷ sẽ giảm khả năng hoà nhập xã hội, kém giao tiếp, thường lặp đi lặp lại một hành vi. Các biểu hiện có thể là chậm nói, cúi gằm khi giao tiếp, sợ tiếp xúc với người lạ, chỉ chơi một trò chơi, ngồi một góc nhà.

……

Với các biểu hiện chậm nói, cúi gằm mặt của con chị, rất có thể cháu đã mắc bệnh tự kỷ. Tuy nhiên, hai vợ chồng chị có thể đưa cháu đến Khoa Tâm thần của Viện Nhi T.Ư để được khám và tư vấn cụ thể hơn. Bệnh viện sẽ kiểm tra điện não đồ, chẩn đoán xem con chị có bị tự kỷ hay không. Các bác sĩ cũng giúp anh chị hiểu hơn về bệnh tự kỷ và có chương trình điều trị cho cháu.

……

Cần thấy ngay rằng, độ tin cậy và tính thuyết phục hoàn toàn của một tuyên bố, phát biểu thường thì không thuần túy chỉ dựa trên mỗi nội dung nêu ra mà còn phụ thuộc vào cả cách trình bày, thể hiện ý tưởng, quan điểm nữa.

Ngoài hạn chế nhất định ở kỹ năng biểu đạt, truyền thông trên phương tiện báo mạng đại chúng, tôi e phần trả lời ít nhiều sẽ gây hoang mang, tạo áp lực lớn từ phía đối tượng trực tiếp tiếp nhận.

Mặt khác, đi vào phân tích  cụ thể càng khó chấp nhận được. Tỷ dụ điển hình là tự thân chậm nói (speech delay) không phải luôn chứng tỏ trẻ mắc tự kỷ, mặc dù đó là một trong các triệu chứng đáng chú ý nhất ở trẻ nhỏ mắc tự kỷ; thực tiễn lâm sàng khẳng định, các rối loạn và vấn đề sức khỏe khác cũng thấy xuất hiện triệu chứng chậm nói.

Khi tự kỷ là nguyên nhân gây chậm nói (vài lưu ý), đứa bé có các biểu hiện chậm lụt phát triển đầy ý nghĩa và nhiều thiếu hụt liên quan khả năng truyền thông và tương tác xã hội.

Sự phân biệt quan trọng giữa những biểu hiện chậm nói do tự kỷ so với các trạng thái bệnh lý khác là sự hiện diện kèm theo của các triệu chứng tự kỷ nữa.

Như vừa trình bày, nên chăng hết sức cẩn thận xem xét hiện tượng chậm nói trong một bối cảnh rộng lớn hơn– từ nhận thức tới giao tiếp, truyền thông– thay cho việc vội vàng và tắc trách gán nhãn liền rồi không quên thủ thế bằng câu thòng ‘tuy nhiên’ giữa trời…

Nhân đây, xin giới thiệu câu hỏi liên quan mà phụ huynh thi thoảng dễ nêu thắc mắc: Liệu có thể dạy ngôn ngữ ký hiệu (sign language) cho đứa con chậm nói của tôi không?

Hầu hết bố mẹ khi nghe rằng sử dụng các cử chỉ có thể trợ giúp phát triển ngôn ngữ nói ở trẻ nhỏ thì đều sợ là các cử chỉ (gestures) sẽ thay thế những từ ngữ mất thôi. Cơ chừng, kết quả nghiên cứu không ủng hộ cho nỗi sợ đó.

Một nhóm tác giả lần đầu tiên cung cấp tóm lược về các cử chỉ và tiến trình phát triển chúng.

Có hai kiểu ngôn ngữ cử chỉ: trực chỉ (deictic) và biểu đạt (representational).

Các cử chỉ trực chỉ thì thuộc tiếp xúc hoặc ở ngoài xa và chúng được trẻ dùng để quy về, kêu gọi sự chú ý tới, hoặc ngụ ý biểu thị một đồ vật hay sự kiện nào đó. Các cử chỉ tiếp xúc đòi hỏi sự tiếp xúc giữa trẻ và người lớn (đẩy tay người lớn ra để bảo ‘không’) song các cử chỉ ngoài xa không yêu cầu sự tiếp xúc (chỉ hoặc chạm tới).

Các cử chỉ biểu đạt mang bản chất ngữ nghĩa (semantic). Chúng có thể là các cử chỉ vốn dính dáng tới đồ vật, đối tượng hoặc được xác định về mặt văn hóa, thường quy về một hành động, khái niệm mang tính văn hóa hoặc xã hội (ví dụ, bảo ai im lặng đi!).

Các cử chỉ trực chỉ xuất hiện lần đầu khoảng 7-12 tháng, còn các cử chỉ biểu đạt nổi lên gần sát  giai đoạn 12 tháng tuổi.

Nhóm tác giả nghiên cứu cho thấy, dùng các cử chỉ ở trẻ nhỏ là một chỉ báo tốt cho sự phát triển ngôn ngữ về sau. Các cử chỉ có thể phân biệt giữa trẻ phát triển bình thường và trẻ gặp trục trặc, chậm lụt ngôn ngữ vào khoảng độ 9-12 tháng; thậm chí, chúng còn có thể phân biệt giữa trẻ gặp các chậm trễ phát triển này nọ như hội chứng Down và Tự kỷ. Trẻ thể hiện giao tiếp bằng cử chỉ tiền ngôn ngữ tốt vào 14 tháng thường có sự nhận thức tốt hơn hẳn vào 24 tháng và 42 tháng– so với các đối tượng không thể hiện được thế.

Do vậy, lượng giá các cử chỉ có thể giúp phân biệt một kẻ ‘biết nói muộn’ so với một đối tượng thực sự chậm phát triển ngôn ngữ. Hơn nữa, sự chơi đùa, đóng vai mang tính biểu tượng (đòi hỏi các cử chỉ) không chỉ liên quan các kỹ năng nhận thức mà còn dự báo các kỹ năng ngôn ngữ khác về sau. Các cử chỉ góp phần quyết định lớn lao từ việc giả vờ uống cho tới việc báo hiệu chúc ngủ ngon thông qua khép mắt lại và áp tay vào đầu.

Tiếp theo, nhóm tác giả thảo luận hành trình phát triển của cử chỉ và số các hành vi nằm trong sự dùng các cử chỉ được xem là quan trọng. Trẻ phát triển bình thường 12 tháng tuổi dùng một cử chỉ/ phút, 18 tháng dùng hai, và 24 tháng dùng 5 cử chỉ/ phút.

Kiểu cử chỉ cũng thay đổi cùng với sự phát triển. Trẻ 12 tháng tuổi chủ yếu dùng các nguyên âm bập bẹ (vocalizations) hoặc cử chỉ, 18 tháng bắt đầu có thêm từ, và 24 tháng đa phần dùng các từ.

Các cử chỉ riêng biệt, đặc thù cũng là những dấu hiệu, chỉ báo quan trọng cho sự phát triển đúng chuẩn tắc. Chẳng hạn, biết chỉ trỏ (pointing) liên quan với sự phát triển ngôn ngữ tốt hơn, nhất là với lượng từ vựng dễ tiếp thu, lĩnh hội.

Phạm vi, tầm mức mà một cử chỉ thể hiện chức năng giao tiếp cũng giữ vai trò quan trọng, đến độ càng nhiều ‘dự tính’ gắn cùng vào cử chỉ thì càng thành tựu hơn trong sự phát triển ngôn ngữ.

Một dấu hiệu đáng ghi nhớ khác trong giao tiếp, truyền thông là khi các cử chỉ đi kèm với mắt nhìn chằm chằm (eye gaze) và bập bẹ phát âm. Thực tế, sự phát triển chuẩn tắc chúng ta mong đợi, kỳ vọng ở trẻ chuyển từ mắt nhìn chằm chằm và phát âm bập bẹ sang các cử chỉ và phát âm bập bẹ, rồi mới tới các cử chỉ và các từ.

Tức là, ngôn ngữ đi theo một lộ trình phát triển, có các âm tiền ngôn ngữ này và các chuyển động cơ (motor movements).

Vậy, làm thế nào các nhà trị liệu ngôn ngữ (speech therapists) lượng giá cử chỉ đây?

Hiện tại có 2 công cụ chuyên nhắm vào các cử chỉ: bộ công cụ Phát triển các Thang đo Hành vi mang tính Biểu tượng (CSBS-DP; Wetherby and Prizant, 2002) và Dạng Cử chỉ, Từ và các Bảng kiểm Phát triển năng lực Giao tiếp MacArthur-Bates (CDI; Fenson et al., 2002).

Như thế là, qua những gì giới thiệu, chúng ta biết rằng sử dụng các cử chỉ ở trẻ nhỏ đem lại các thành tựu tốt đẹp hơn rất nhiều. Song, liệu điều đó cũng hàm ý việc dạy các cử chỉ cũng đem lại thành tựu tốt đẹp?

Hầu hết nhà nghiên cứu trả lời ‘vâng’. Ví dụ, dạy các cử chỉ cho thấy cải thiện lên hẳn sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ mắc tự kỷ. Ngoài ra, dạy các cử chỉ cho trẻ nhỏ còn góp phần phát triển tốt hơn ngôn ngữ theo một số nghiên cứu (chẳn hạn, ở đây). Và mặc dù vẫn có tranh cãi xung quanh vấn đề này, song chưa có bằng chứng thực nghiệm nào khẳng định việc dạy các ký hiệu cho trẻ sẽ làm chậm khả năng nói.

Có thể nhìn việc học ngôn ngữ ký hiệu như là dịp chúng học thêm một ngôn ngữ khác nữa ở nhà. Đừng quên rằng, có một khoảng thời gian lặng yên trước khi cả hai ngôn ngữ nổi lên, xuất hiện.

Trong khi bình tâm chờ đợi, mời xem vidéo dễ thương quay cảnh một đứa bé 12 tháng tuổi học sử dụng ký hiệu.

Thiết nghĩ, cũng cần tìm hiểu xem những gì bố mẹ trẻ thực sự mong muốn khi con mình tham gia trị liệu ngôn ngữ.

Nghiên cứu chỉ ra sự khác biệt giữa bố mẹ và nhà trị liệu ngôn ngữ trong các kỳ vọng liên quan tới việc điều trị.

Theo đó, các tác giả khẳng định hy vọng bố mẹ tập trung vào những thay đổi thuộc các khía cạnh cảm xúc và xã hội lúc giao tiếp, trong khi mục tiêu của các nhà trị liệu lại quan tâm hơn tới các khía cạnh hành vi và/hoặc y khoa; bố mẹ muốn con mình thể hiện sự gần gũi ở trường Mẫu giáo, còn mục tiêu của nhà lâm sàng lại đặt vào việc trẻ nói các câu hoàn chỉnh.

Nghiên cứu cũng cho biết, các đo lường không phải là tất cả mà các nhà lâm sàng cần lưu tâm tới cả bố mẹ trẻ nữa, rằng mục tiêu của nhà lâm sàng nên tập trung hơn tới khía cạnh xã hội và cảm xúc trong giao tiếp, truyền thông.

Rõ ràng, khó mà không tán đồng, nhất trí cao với đề nghị này khi nghĩ về và cố gắng vận dụng vào bối cảnh nước nhà Việt Nam.

Một chương trình đào tạo giáo viên để dạy cho đối tượng trẻ mắc Tự kỷ

Đây là báo cáo tóm lược một nghiên cứu sơ bộ thực hiện ở Đức có mục tiêu xem xét tính hiệu quả của một chương trình đào tạo giáo viên để dạy cho đối tượng trẻ mắc hội chứng phổ Tự kỷ (Autism Spectrum Disorders (ASDs).

Nghiên cứu tiến hành với 10 trẻ (7 bé trai; tuổi trung bình là 10) nhận các dịch vụ từ 10 giáo viên (8 nữ). Mỗi giáo viên dạy cho 1 cháu mắc ASDs trong lớp học giáo dục đặc biệt dành cho trẻ em bị chậm phát triển tâm thần (Mental Retardation (MR).

Dựa trên thang đo Childhood Autism Rating Scale (CARS) biết, sáu trong 10 trẻ tham gia đã mắc tự kỷ nặng, ba trung bình và một thì nhẹ. Chương trình đào tạo giáo viên nhằm cung cấp hiểu biết mô hình lý thuyết cơ bản về ASD và học hỏi một số các kỹ năng căn cứ vào thực chứng (evidence-based skills) hướng tới những nhu cầu của trẻ mắc Tự kỷ.

Chương trình cũng dạy các phương pháp thiết thực và các kỹ năng giáo dục trong đời sống hàng ngày tại lớp học thông qua việc chú tâm tới “các can thiệp làm lâu nay” (Bregman và cs. 2005) và các phương pháp thuộc dạng “dạy học theo cấu trúc” (Mesibov và cs. 2006), cũng như các kỹ thuật “hỗ trợ bằng hình ảnh” (Prizant và cs. 2006).

Phương pháp “dạy học theo cấu trúc” (“structured teaching”) gồm 5 vùng nội dung: (1) không gian và (2) cấu trúc thời gian trong môi trường học đường và xã hội của trẻ, (3) sự thực hiện hệ thống học hỏi thông qua làm việc, (4) thiết kế theo cấu trúc các nhiệm vụ, và (5) sự thực hiện các hỗ trợ truyền thông bằng hình ảnh.

Chương trình đào tạo với 3 buổi (session) dành cho 2 nhóm (5 giáo viên/nhóm). Các giáo viên ghi nhận hành vi của trẻ trước khi đào tạo và 9 tháng sau buổi huấn luyện đầu tiên.

Các công cụ lượng giá gồm Bảng hỏi các triệu chứng hành vi của trẻ tại lớp học (Classroom Child Behavioral Symptoms Questionnaire (CCBSQ) và Bảng hỏi về những phản ứng stress của giáo viên lúc lên lớp (Classroom Teacher’s Stress Reactions Questionnaire (CTSRQ).

Kết quả cho thấy là có một sự giảm thiểu đầy ý nghĩa về các trục trặc của hành vi khi đo CCBSQ, và một sự giảm thiểu đáng giá về biểu hiện stress ở giáo viên qua dùng CTSRQ sau giai đoạn 9 tháng nói trên.

Nghiên cứu này cung cấp một số bằng chứng ban đầu, sơ bộ về tính hiệu quả của chương trình đào tạo giáo viên vừa nêu.

Tuy thế, khi lượng giá các báo cáo nghiên cứu sơ bộ tương tự, độc giả nên nhận ra các giới hạn chấp nhận được thuộc phương pháp luận đặc thù này.

Thứ nhất, nghiên cứu được thực hiện với sự tình nguyện tham gia mà toàn bộ ứng viên đều theo phương pháp luận thực nghiệm (đào tạo giáo viên). Vì thế, khó biết rõ sự tiến bộ là do chương trình đào tạo hay đơn giản nhờ các đặc thù của đối tượng trẻ em liên quan; tỷ dụ, có khả năng là các cháu này thể hiện cùng mức tiến bộ như thế trong các lớp học khác với các giáo viên không tham gia chương trình huấn luyện. Hơn nữa, kết quả được định đọat bởi cùng các giáo viên không biết tới thực nghiệm.

Thành thử ra, khả năng là các báo cáo của họ về những cải thiện, tiến bộ chịu ảnh hưởng bởi tính hiệu quả do chủ quan tri nhận (tương tự hiệu ứng giả dược placebo) mà hoặc có hoặc không được phản ánh trong những thay đổi hành vi thực tế.

Khi cơ thể ta ở tư thế nằm…

Bộ não chúng ta có thể xử lý sự tức giận hoàn toàn khác biệt phụ thuộc vào chuyện ta đang đứng hay nằm, theo một nghiên cứu trên Psychological Science; điều này cũng khởi tạo nhiều ứng dụng đáng lo trong nỗ lực hiểu biết chức năng của bộ não.

Các thực nghiệm về sự tức giận khi đo dấu hiệu điện não (dùng EEG) hoặc hoạt động thần kinh thay thế bằng xung điện từ (dùng TMS) đã phát hiện ra rằng, thùy trán trái (left frontal lobe) bị kích hoạt hơn hẳn thùy trán phải, mặc dù các nghiên cứu sử dụng máy chụp chức năng cộng hưởng từ fMRI không nhận ra sự khác biệt nào.

Hai nhà tâm lý tiến hành đề tài tự hỏi phải chăng bộ não có vẻ biểu hiện rất khác biệt như vậy qua EEG và TMS là vì những người tham gia thực nghiệm thường đứng thẳng, trong khi chụp fMRI thì đối tượng nằm duỗi lưng.

Nếu sự kiện trên phản ánh nét phân biệt chẳng đáng kể, đích thị lại tồn tại vài ba lý thuyết ẩn bên dưới. Chẳng hạn, lĩnh vực nghiên cứu về ‘nhận thức hóa thân’ (‘embodied cognition‘) phát hiện  thấy rất nhiều tương tác kỳ cục giữa cách thức tâm trí và bộ não xử lý các đáp ứng– phụ thuộc vào những khả thể của hành động.

Tỷ dụ, chúng ta tri nhận khoảng cách sẽ ngắn hơn khi có một công cụ trong tay và dự tính dùng nó, và  đeo ba lô nặng dễ khiến mình cảm thấy các ngọn đồi cơ chừng dốc đứng hơn.

Tức giận là thí dụ chính yếu cho việc ta cảm thấy bị thôi thúc để ‘làm điều gì đó’. Ở tư thế đứng, mình hầu như sẵn sàng tiến dần ngay tới điều gì gây khó chịu, hơn lúc mình nằm duỗi lưng; và các nhà nghiên cứu băn khoăn chưa rõ liệu các tư thế cơ thể này có phải đang tương tác với động cơ của bản thân chúng ta khiến thay đổi đáp ứng của bộ não.

Để kiểm tra giả định, hai tâm lý gia Harmon-Jones và Peterson đề nghị 46 đối tượng tham gia thực nghiệm viết một tiểu luận ngắn trước khi họ tiến hành đo điện não EEG.

Sau đó, những người tham gia thực nghiệm đeo tai nghe để nghe khi ai đó khác đọc tiểu luận của họ rồi đánh giá các đặc tính của tác giả như sự thông minh và năng lực cá nhân. Một số nằm lắng nghe, số khác thì nghe lúc đang đứng.

Điều mà các đối tượng tham gia thực nghiệm không hề hay biết là ‘kẻ đánh giá’ vốn được ghi âm sẵn trước, và trong khi một số người nghe bình luận ôn hòa, tốt lành về tác phẩm của họ thì số khác lại nghe ‘kẻ’ khác phỉ báng và đánh giá cay nghiệt đối tượng cũng như nhân cách của họ.

Phù hợp với lý thuyết ‘sẵn sàng đáp ứng’, khi những người tham gia thực nghiệm tức giận và đang ở tư thế đứng, thùy trán trái bị kích hoạt nhiều hơn hẳn so với thùy trán phải song khi họ tức giận lúc đang nằm, chẳng có sự khác biệt nào giữa hai thùy trán.

Như thế, các phát hiện cung cấp bằng chứng tư thế cơ thể tương tác với các tiến trình xử lý cảm xúc của bộ não, có lẽ phụ thuộc vào những hành động nào khả dĩ biểu hiện ngay lập tức.

Quan trọng hơn, thực nghiệm còn cho thấy các kỹ thuật khoa học thần kinh có thể đưa ra kết quả không giống nhau do đòi hỏi khác biệt ở tư thế cơ thể khi tiến hành các kiểm tra, đo lường.

Riêng phần tôi, đọc nghiên cứu này lại càng hiểu thêm tại sao để moi sạch và biết tuốt thông tin cần nắm vững ở đối tác, phụ nữ hay dùng chiêu ngủ với đàn ông; thực tế, phái mạnh có thể cắn răng chịu đựng nhục hình mà tuyệt không bao giờ khai báo trước kẻ thù gian ác, song họ đã dần dần phun ra hết lúc có hành vi tính dục với chị em. (Hy vọng, đây không phải là bí mật siêu phàm rỉ tai nhau trong giới đàn bà).

[Sợ trễ tràng] Chỉ để chàng- nàng- tớ- ấy vui vầy tí thôi mà

Chợt xí xọn tò mò: Tâm hồn mình có điều chi kỳ cục vậy ta? (Dấu hiệu ‘tin tin‘ phục hồi đó chăng?)

Đây là câu trả lời sau chút thời gian lướt nhìn khắp lượt, cứ tưng tưng rà theo nhấp chuột.

Tâm tình rộng lượng

Cảm nhận thẳm sâu và hết sức thoải mái. Để toàn thể con người mình khám phá tất tật mọi xúc cảm, ngay cả những điều kinh sợ.

Có những cảm xúc mãnh liệt. Hay lắng lòng nghe kỹ… hiếm hoi lần nó dẫn sai chỉ bậy.

Cơ chừng dính hút ngay cùng người thể hiện mối quan tâm, săn sóc và khiến mình cảm thấy an toàn. Muốn một phối ngẫu đáng tin cậy.

Dễ phải lòng quá trời rồi đeo cứng luôn với đối tượng đã chọn. Sinh ra đời để yêu thương.

Nếu chẳng tin tưởng lắm và không quá nghiêm túc với trò chơi giải đố, mời bạn có thể tự tay thử tìm hiểu xem phần bản thân ra sao, sau đó càng tuyệt khi chia sẻ cho độc giả biết rõ với nhé!