Hy vọng, như một khái niệm tỏ mờ hư thực

Mấy đoạn bên dưới kèm tiêu đề và hình minh họa trên được soạn tròn trèm ba tháng rồi; tức trọn một kỳ tam cá nguyệt, nghĩa là cũng vừa khép xong cả quý luôn.

Trong cuốn sách gợi ý từng sáng tạo, đề nghị cho cái ngày thứ 265 của 2015 hôm nay (tức 100 ngày nữa là hết năm đó): làm sân golf ngay tại nhà riêng, thậm chí đào đủ 18 lỗ rồi rủ thêm người khác chơi cùng.

Khi mình ngồi ngắm ánh nắng ngoài kia nhảy nhót tưng tửng, với không gian yên ắng thoáng đãng phả đầy hơi mát khá lạnh song thi thoảng vẫn nghe rõ xen lẫn giọng Quảng quá chân chất nữ nhân cất tiếng vang vang thì thế giới còn tiếp tục lấp ló vô vàn bi hài nhân duyên thuận nghịch. Liếc thấy tin đưa rằng một căn nhà xây dựng lâu đời ngay giữa thủ đô bị sập bất ngờ; cứu hộ, thương vong, hoảng loạn và sợ hãi.

Và tí chút đừ người bởi cơn cảm mạo gây ứ nghẹn cổ họng khiến lòng dễ dãi chấp nhận dùng ngay quà tặng tình cảm gồm vỉ Strepsils 12 viên vị cam thảo với hộp ngậm Fisherman’s Friend bạc hà; nghe chừng thiệt lạ lẫm hay ho bởi lần sử dụng đầu tiên cái đồ gắn danh xưng ngoại quốc bay bướm, chứ quen thuộc đầy hiệu nghiệm thủy chung nghiêng về món nước pha muối truyền thống da diết.

Dọn dẹp nội tâm đặng tìm đủ không gian thúc ta nhúc nhích tương tác vào những khoảnh khắc biếng lười e chẳng quá khó, vì mẹo nhỏ sẵn bày: để khơi lên dopamine thì nên đưa liền một dự đoán, cóc buộc nhất thiết phải lớn lao mà chỉ cần thu hút tới trạng thái tập trung chú ý hoặc gia thêm tẹo năng lượng; tỷ dụ, cậu bạn đang làm công chức chắc kẹt việc đột xuất, hay cuộc gặp của các vị khởi nghiệp chắc chắn thành công, hoặc mai mấy giờ thì máy báo có thư điện tử, v.v…

Như thế, khiêm cung tự tại chẳng hề lùng bùng với lối biểu đạt hào hứng, tâm thế sống đời tri ân càng giúp bản thân thoải mái chịu đựng, và rốt ráo, vô vàn rào chắn hay ranh giới cảm xúc nỏ ngăn nổi khả năng nhìn thấu tỏ tính quan yếu điệp tô lòng cao cả tỏa rạng nơi chính tha nhân.

—————————————–

Khá dễ hiểu là đa phần mọi người trong đời sống thường ngày chẳng thấy mấy khó khăn khi nói về ‘hy vọng’, dù thực tế chủ đề nghe chừng quá quen thuộc này phải sau một thời gian mới thấy xuất hiện trong y văn tâm bệnh học.

Hy vọng trở thành mối quan tâm của nhân loại băng xuyên nhiều thế kỷ và nền văn hóa. Chẳng hạn, trong thần thoại Hy Lạp, nó thuộc loại tội lỗi chứa ở hộp Pandora là quà tặng thần thánh trừng phạt con người. Theo truyền thống Do Thái- Kitô giáo trái lại, hy vọng được xem như một món quà tâm linh thiện lành Chúa trời trao ban. Nó cũng là đề mục triết học quan yếu.

Vị đầu tiên giới thiệu hy vọng như khái niệm khoa học xã hội e là Karl Menninger (1959); đưa vào Tâm thần học, quan trọng cho khởi sự thay đổi có tính trị liệu, ước ao học hỏi và trạng thái thân- tâm an lạc của cá nhân. Từ thời điểm đó, hy vọng thu hút người ta nghiên cứu làm tăng lên số lượng các bài báo xuất bản. Tổng quan xác định có 32 công cụ đo hy vọng dựa trên các bài báo đã đăng (Schrank và cs. 2008).

Nhìn chung, các lý thuyết và thang đo về hy vọng được phân nhóm: (1) các khái niệm chủ yếu dựa trên cảm xúc; (2) các khái niệm chủ yếu dựa trên nhận thức; (3) các khái niệm kết hợp cảm xúc với nhận thức; và (4) các khái niệm đa chiều kích.

Chẳng hạn, Lynch (1965) xem hy vọng là một “hiểu biết và cảm xúc căn bản cho thấy rằng có cách thức vượt khỏi sự khó khăn, có nhiều giải pháp, và rằng là con người nên chúng ta ít nhiều khả dĩ trông nom thực tế nội tâm và ngoại giới”. Tương tự, Larazus (1999) cung cấp hai lý do xem xét hy vọng như một cảm xúc: đa phần khởi lên từ ước muốn hiện diện mạnh mẽ trong tình huống khó khăn; và thứ hai, phát triển ấn tượng là điều có thể, thông qua các nỗ lực của bản thân chúng ta hoặc do các lực lượng bên ngoài. Obayuwana & Carter (1982) xem hy vọng như trạng thái tâm trí tựu thành tích cực nhờ cái tôi cường tráng, ghi nhận trợ giúp của gia đình, tôn giáo, giáo dục và các tài sản kinh tế. Hinds (1984) thì xem hy vọng ở phạm vi rất rộng mà cá nhân đoán trước tương lai; là “một cấu trúc cảm xúc cai quản bởi các quy tắc nhận thức” (Averil và cs., 1990)…

Đòi hỏi cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt

Tâm trí luôn biểu tỏ dự tính, quá dễ thấy với các hoạt động lý tính như sự giải quyết các vấn đề liên quan đến toán học chẳng hạn; song điều ấy tinh tế hơn rất nhiều khi cố tìm hiểu tác động của cảm xúc. So với nhận thức thì cảm xúc ít bị dẫn dắt bởi dự định.

Vốn phi lý, cảm xúc hàm chứa các cơ chế phòng vệ khi nó tác động tới suy tư. Ba cơ chế phòng vệ đáng quan tâm là chối bỏ (denial), thăng hoa (sublimation), và kiềm nén (repression).

  • Chối bỏ có thể hiện diện do sự không chấp nhận các thực tế thuộc thế giới vật chất và tinh thần, hoặc nó đấu lại hết sức kịch liệt những ý tưởng đánh thức trong một lo âu nào đó. Như các cơ chế phòng vệ khác, chối bỏ phụ thuộc vào việc ‘kiềm nén” là cơ chế vốn được hiểu luôn ẩn giấu bên dưới tất cả các cơ chế phòng vệ.
  • Thăng hoa bộc lộ việc thay thế hoặc phân ly khỏi các cảm xúc hay xung năng tiêu cực thành các cảm xúc, ứng xử, hành động tích cực. Cơ chế phòng vệ này định dạng các viễn tượng nhờ thương lượng tạo tác động thỏa mãn cho cái tôi (ego), chẳng hạn, cho phép một người đánh giá bản thân mình là vị tha khi anh ta chối bỏ dự tính vô thức để chuyển đổi các cảm xúc tiêu cực thành hữu ích và đạo đức. Dù gì, cơ chế thăng hoa giúp duy trì nhiều khía cạnh tốt đẹp của xã hội. Các cá nhân giương cao các giá trị đáng gìn giữ bởi hầu hết người ta đặc thù dùng cơ chế thăng hoa; cơ chế cho phép cái tôi càng thêm lợi lạc do không ngừng thuyết phục chúng ta về đạo đức và luân lý nằm dưới các hành động tốt lành.
  • Hành vi kiềm nén khiến chúng ta đối đãi với môi trường bằng thứ quan điểm thoải mái và nuôi dưỡng bất chấp sự kiện rằng cái nhìn này không hề tương hợp với thực tế. Kiềm nén ấn trong trạng thái sẵn có và kém chín chắn trong phát triển thể lý lẫn tinh thần cho người ta dễ đạt tới sự yên ổn cả về thể chất và tâm lý khi đương đầu với một tình huống mà không cần bóp méo từ vô thức thông qua việc kiềm nén.

Cũng hiển nhiên với nhiều chứng cứ rằng ý nghĩa loạn thần được đan dệt bởi cảm xúc bị thúc đẩy do các cơ chế phòng vệ; điều này hàm chứa việc dùng nhiều cơ chế phòng vệ mang tính tâm lý rất bệnh học. Thông qua mô tả ba kiểu hoang tưởng  sau đây, khả thể phân biệt ngay động cơ mang chất cảm xúc của lối suy tư loạn thần:

  • Các hoang tưởng quấy đảo, hành hạ cho thấy loại kiểu cơ chế phòng vệ. Những hoang tưởng quấy đảo có thể phủ khắp thành nhu cầu tự thấy mình quan trọng, thậm chí, chúng cung cấp lý do hữu hiệu giả tạo cho nỗi khổ niềm đau của ta.
  • Các hoang tưởng mang tính tự cao tự đại thể hiện một ‘phức cảm siêu phàm’ cho phép việc tự tri nhận và lòng tự tôn thêm phần hay ho, khiến người ta cảm thấy mình quyền lực ghê gớm so với thực tế, bất kể sự kiện là các cảm xúc chỉ mang chất tích cực giả tạo.
  • Các hoang tưởng điên đảo vì tình, loạn dục không chỉ ban thưởng khoái lạc mà còn thỏa mãn sâu xa sự thân mật.

Các đền bù này chỉ ra tính cấp thiết về mặt cảm xúc của các cá nhân mắc loạn thần. Thuật ngữ ‘tính cấp thiết về mặt cảm xúc’ không hề có ý nhục mạ và lên án mà nó chỉ ra sự thích ứng. Trạng thái tha hóa và việc bị nô dịch của bệnh tâm thần là sự thật, và lý do mang yếu tố cảm xúc bên dưới các cơ chế phòng vệ là hiển nhiên. Các sự kiện này trỏ thẳng câu trả lời hay nhất với vấn đề bệnh tâm thần như tâm thần phân liệt; bộc lộ hoàn mãn các nhu cầu tâm lý- sinh học- xã hội của bệnh loạn thần.

Đặt trong các xem xét như thế, thuốc men là hiệu quả; khi khoa học càng tiến bộ, càng thêm phần giá trị hơn. Quan trọng là thoát khỏi trạng thái tha hóa (alienation), và nên tiếp cận dưới góc độ tâm lý trị liệu mang tính thấu cảm nhiều nhất có thể. Thứ đến, chúng ta cũng cần đương đầu với sự định kiến liên quan rối loạn tâm thần phân liệt.

Các câu trả lời khá đơn giản; tuy thế, nếu tính nhất thiết của cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt được hiểu một cách từ bị và chẳng mang hơi hướng đánh giá, thực tiễn tâm thần phân liệt có thể dần ít bị định kiến, nhục mạ. Khỏi dần thói chỉ trích, và căn cốt, được cải thiện hơn hẳn. Cần khẳng định, vấn đề không nằm ở cái nhãn ‘tâm thần phân liệt’ mà chính giả định gán nhãn vậy cho chỉ báo của sự định dạng cá nhân người ta. Rõ ràng, bệnh loạn thần tác động tới các cá nhân ấy nhiều hơn hoàn cảnh sống khác. Bất chấp, những thực tế của họ trong trạng thái ‘mông lung, hư ảo’ thì họ vẫn có thể được nhìn nhận với lòng từ bi, trừ khi kẻ ‘bình thường’ bất khả thể hiện phẩm chất nhân văn ấy.

Tên giết người, kẻ cười biếm và sự chế nhạo tế vi sinh tử: trong nỗi khổ đau chung đụng

Thế giới của những chỉ trích lại qua cao độ càng dễ làm tăng thêm mức nguy hiểm âm ỉ từ nỗi niềm hận thù tích chứa khó lường trong lòng. Vụ thảm sát ở Paris vừa qua chắc khó khiến người ta ngoác miệng nhìn nhau hỉ hả được, bất chấp tranh luận trong ngoài hiện vẫn còn tiếp diễn dây dưa…

Ai quan tâm tìm hiểu văn học- nghệ thuật Pháp chẳng khó nắm bắt các sắc thái châm biếm, trào phúng khác nhau qua các thời đại, với phong vị Rabelaisian hay khí chất kiểu Voltairean. Khởi từ thời nổi loạn ấn tượng 5- 6.1969, các bức tranh biếm họa của tờ báo ra hàng tuần Charlie Hebdo mang cả lối đả kích chính trị hồi Charles de Gaulle trộn lẫn kiểu minh họa dung dị Charlie Brown.

Nếu biếm họa quả là một truyền thống Pháp thì càng dễ hiểu cơn cớ người ta cố bảo vệ quyền tự do biểu đạt, và tính cách ấy góp phần lý giải tại sao cần gìn giữ khả năng gây sốc của nghệ thuật.

Vấn đề đáng tìm hiểu nghiêm túc: liệu các biếm họa mang quyền năng hơn hẳn nghệ thuật đích thực? Và thật phi lý khi giới truyền thông toàn cầu lờ các vụ thảm sát ở lục địa đen Phi châu và sẵn lòng hừng hực đương đầu khi sự cố chết người xảy đến ở châu Âu già cỗi? Lần cuối cùng một nghệ sĩ thị giác bị giết bởi một tác phẩm gây tranh cãi là khi nào, hay các điểm khác biệt giữa nghệ thuật bình dân với hội họa, mỹ thuật?

Không chỉ tranh biếm họa, phim ảnh cũng từng trở thành đối tượng để các kẻ cực đoan sát hại tác giả. Và lần nữa, lich sử nghệ thuật vẫn sẵn có ví dụ về sắp đặt được mua với giá $20.000 và ngay cả khi bị cho là ‘gớm chết’ thì khi khởi kiện, phía Bảo tàng vẫn thắng, bất chấp đề tài chạm tới các biểu tượng tôn kính của Công giáo La Mã.

Dĩ nhiên, đó không phải là câu chuyện nhắm tới ý khoan dung tôn giáo; kỳ thực, người làm chuyên môn có thể nảy sinh nhu cầu phân biệt giữa biếm họa và mỹ thuật. Kiểu biếm họa (cartoon) thì vẽ liền ngay, dễ xem, và thường được khởi thảo để trêu tức, khiêu khích; nghệ thuật (art) thì thường dự tính, mang ý định tạo vết cắt buốt chầm chậm về sau, nó đề xuất nhiều vấn đề và câu trả lời. Các nhà vẽ tranh biếm họa biết họ dễ bị đưa lên giá chữ thập:

Vẽ tranh biếm họa là tay cực tối giản, và những kẻ chuyên quyền, bạo chúa cũng tối giản đâu kém… Vì thế, họ hiểu quyền lực của biếm họa. Những người vẽ biếm họa thường rất giỏi chuyện chưng cất, tinh luyện, họ đánh thức theo cách hết sức dễ hiểu… và đó là lý do tại sao các bức tranh thật đáng sợ.

Và sự sinh, sinh sự nên tất xuất hiện ý kiến “tự do báo chi không có nghĩa thoát khỏi mọi phê bình” đi kèm với nhận định rằng nghệ thuật không coi trọng quá tính thiêng.

Thực tiễn nhân loại chỉ ra, duy mỗi con người trong các tạo vật trần gian mới có thể suy tư, nói năng, và làm ra các tác phẩm; trầm tư rồi nhận thấy tính Vô hạn; rằng nghệ thuật nhân loại, như nghệ thuật thần thánh bao gồm cả hai mặt của các khía cạnh định rõ và không xác lập nổi, cả cần thiết lẫn tự do, gồm trạng thái run rẩy lẫn niềm vui thú.

Nghệ thuật thế tục do vậy, được phân biệt với nghệ thuật của tính thiêng: trong nghệ thuật tính thiêng (sacred art) những gì đặt định sẵn vượt qua mọi thứ là nội dung và việc sử dụng tác phẩm, còn với nghệ thuật thế tục (profane art) những cái đó chỉ là cớ cho việc nảy nở niềm vui sáng tạo…

Chắc chắn, đấy là cuộc chung đụng bất khả chối bỏ, chẳng ít tai ương và đầy đau khổ.

Chẳng có chi phải lo ngại khi không nói gì…

Khi nhất thiết phải mở mồm và cất tiếng thì quả thật khó khăn biết bao nếu chẳng nói gì cả. Kỹ năng bộc lộ được đẩy mạnh thêm nhờ sự cho phép không cất lời chính là câu chuyện của kiểm soát, như một vấn đề thuộc quyền lực.

Thực tế, tình huống trị liệu từ ban đầu đã bất công; tuy nhiên, thấm thía với tư cách là nhà tham vấn tâm lý cho thân chủ quyền lực để điều hướng tiến trình của riêng họ, mình buộc phải nhận ra rằng đang nắm giữ tất cả kiến thức về tình huống, các chuẩn mực và ranh giới thuộc văn hóa trị liệu, và những kỳ vọng lẫn trải nghiệm cá nhân. Cảm xúc nắm giữ hết thẩy thế của nhà trị liệu dễ khiến một số thân chủ nảy sinh trạng thái bất an, và họ có thể muốn giữ rịt các câu chuyện cho riêng mình để bám chặt một vài kiểm soát nhất định.

Thường người thực hành tâm lý được dạy rằng phiên đầu tiên dành cho các thủ tục ký tá nọ kia, phiên thứ hai mới khởi sự nói về ‘vấn đề đích thực’ nên cũng dễ xảy ra chuyện nếu được phép ngấm ngầm, như dấu chỉ chân thành của lòng tôn trọng từ nhà tham vấn, để bộc lộ toàn bộ tình huống của họ ngay từ lần đầu tiên gặp gỡ.

Quan điểm trị liệu ẩn bên dưới thông điệp vừa nêu rõ ràng khẳng định rằng thân chủ nợ nhà tham vấn việc cung cấp thông tin, trong đó thổ lộ tự thân nó là mục tiêu, có vẻ là sự dựa cậy quyền lực chẳng mấy hữu ích. Ở đâu bất công về quyền lực, ở đấy sẽ là xung đột. Thiển nghĩ, ý tưởng thân chủ cần ‘đưa cho’ nhà tham vấn câu chuyện đời mình hoặc các cái tôi để nhà tham vấn ‘làm điều gì đó’ với chúng nào khác gì hơn nỗi sợ hợp pháp mà thân chủ có thể sở hữu, điều nhà tham vấn có thể nỗ lực xua đi dứt khoát xuyên suốt phiên làm việc đầu tiên.

Bất kể thân chủ đến với ước muốn chân tình đi thẳng vào ‘vấn đề’ hoặc họ không cảm thấy an toàn để làm điều đó và cần xây dựng sự tin tưởng trước đã, trường hợp nào thì phiên đầu tiên là cơ hội để cả hai bên để ý lẫn nhau rồi thương lượng công việc tương lai dưa trên nên tảng công bằng nhất khả dĩ. Công việc giá trị có thể cũng hoàn thành ngay ở đây và bây giờ giữa thân chủ và nhà trị liệu hoặc trong lòng thân chủ mà không nhất thiết đang nhắc đến ‘câu chuyện’ hay ‘vấn đề’.

Kiểu phiên làm việc như này cũng chứa đựng thông điệp rằng đúng cả khi nói hoặc không cất tiếng gì cả. Nhiều nhiều vấn đề hay ho mang tầm quan trọng sống động có thể đã không hề được thảo luận. Song các thân chủ, một khi họ cảm thấy an toàn, được tự do dùng không gian và các mối quan hệ như họ muốn. Họ không nợ nhà trị liệu điều chi, và nhà trị liệu không hề nghĩ mình bị chơi khăm nếu họ nhận ra tất cả những gì là sự kiện và cảm xúc thích hợp, liên quan.

Bài học nằm ở chuyện tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng để không gây áp lực thúc đẩy những người khác bộc lộ, và truyền thông sự vắng bóng áp lực hết sức rõ ràng âu là công cụ hữu ích cho mọi kiểu dạng quan hệ; gợi nhớ ví dụ mẹ liên tục hỏi con kể cho bà nghe những gì xảy ra ở trường trong thời gian đi học xa nhà, hoặc tình huống cô vợ rập khuôn khẩn khoản chồng nói cho mình hay về cảm xúc trong lòng cậu ấy…

Khi cảm thấy được chấp nhận bất kể mình là ai, nói nhiều ít tùy thích, rồi thường hơn là cảm giác an toàn cùng tin tưởng tạo lập nên trong quan hệ, và mình có thể nói nhiều như mình cần thiết và mong muốn bộc lộ. Mình được thoải mái chọn lựa. Và sự chấp nhận tự thân nó đủ xúc tiến, làm tăng lên trạng thái triển nở và thân- tâm an lạc.

Nhận ra điểm khác biệt giữa hiệu năng và sự học hỏi

Thực tế trêu ngươi là dù tiến trình học hỏi có vẻ được hiểu kỹ càng lắm rồi, thế mà chúng ta vẫn thất bại trong việc vận dụng những gì mình đã biết.

Khi thấu tỏ học hỏi là chi, và hiệu năng thể hiện khác biệt như nào với việc học hỏi, các bậc phụ huynh dễ phát hiện một điều nghịch lý rằng, đứa cháu gái mình đạt 100% tất cả các lịch biểu học tập đề ra hàng ngày lại trở thành điều tồi tệ.

Tưởng tượng có câu chuyện về hai lớp học.

Lớp đầu tiên tuy không quá đặc biệt song nó khác với hầu hết lớp học trẻ con chúng ta quen thuộc. Trong lớp này, giáo viên phát tận tay mỗi em lịch biểu công việc học tập riêng tự bản thân tiến hành, không nhờ ai giúp đỡ cả. Một nữ sinh giả dụ tên là Lan, liếc xéo tờ lịch biểu học tập; nó dưới tầm của cô bé và cơ bản hơn, gây phiền phức cho dịp được nghỉ ngơi ở nhà của Lan. Cỡ mười phút sau, Lan đã làm xong nên cô bé ngó mông lung lên trần nhà chờ bạn bè còn đang loay hoay. Cô bé đang học hỏi rằng thành công đến với mình không phải do mình chăm chỉ ra sao mà chỉ bởi vì mình giỏi giang hơn hẳn bạn bè.

Trong khi đó, cậu bé Dũng ngồi bên cạnh Lan lại đang trầy trật với câu hỏi. Cậu chàng nhìn chăm chăm vào tờ giấy và bóp đầ,u vắt trán cho tới khi lời giải lóe lên. Dù nỗ lực gắng sức hoàn thành xong lịch biểu bài tập, Dũng vẫn cảm thấy tồi tệ vì e rằng có đôi câu hỏi trả lời sai và tốn nhiều thời gian so với Lan. Cậu nghĩ thầm tại sao mình không giỏi giống như Lan.

Lúc này, Hoa ngồi kế bên Dũng, lại úp mặt xuống bàn. Cô bé không hiểu tờ lịch biểu công việc này. Hoa mơ hồ về nó có thể vì hồi đêm ngủ không đủ giấc, bị chuyển tới đây học kỳ rồi, hoặc đang buồn thiu do không được chẩn đoán là gặp khó khăn trong học tập. Chẩn đoán bất thường về cô bé (do bạn cùng lớp và cả giáo viên đánh giá) là lười biếng và không thông minh cho lắm, và cô bé thật may mắn lắm thì mới theo kịp chương trình. Tỷ dụ, Hoa hình dung sẽ thế nào nếu em ngỏ lời nhờ Lan hoăc Dũng bày vẽ, giúp đỡ mà điều đó thì trái với nguyên tắc, quy định. Vả lại, gì đi nữa, cô bé Hoa biết rằng mình sẽ luôn là kẻ đội sổ lớp dù có cố gắng hay không; vậy thì quan tâm, lo lắng để làm gì cơ chứ…

Bây giờ, chúng ta chuyển sang một lớp khác: một lớp học về bơi lội. Ngôi trường này chú trọng dạy các bài học bơi với từng em hơn là bài học bơi chung cho cả nhóm. Mỗi giáo viên hướng dẫn không chỉ bơi lội giỏi mà còn hiểu biết về các tiến trình cũng như giai đoạn học sinh thường trải qua từ trình độ sơ cơ cho đến thành vận động viên tiềm năng. Vượt trên các kỹ năng vật lý của việc bơi lội, các hướng dẫn viên này có các hiểu biết thực tế về khả năng của mỗi em trong việc phối hợp các động tác cơ thể, lưu giữ chú ý, cũng như điều kiện và sức chịu đựng… Họ biết các điều ấy vì họ luôn giám sát và lượng giá đều đặn tiến bộ ở từng học sinh. Các giáo viên dạy bơi chỉ ra ngay lập tức và nhắc nhở liên tục về những thành công và vấn đề đủ cho một học sinh có vô vàn cơ hội cải thiện với từng bài học trong 30 phút.

Ấn tượng nhất là cách các hướng dẫn viên ở đây hết sức tránh việc huấn luyện kỹ năng thành lão luyện. Khi một học sinh đạt khả năng cơ bản để dùng như một kỹ năng thì người hướng dẫn tạo ra điều mới mẻ mang tính thách thức hơn chút. Chỉ cần một học sinh đã học cách đập chân ở kiểu bơi tự do (còn hơi khó khăn) thì em này đã sẵn sàng để được bày các nguyên tắc cơ bản cho kiểu bơi bướm. Sau khi thiết lập kỹ năng cơ bản, việc ôn luyện sẽ diễn ra vài tuần để kỹ năng đó ngày càng thuần thục hơn song không bao giờ để nó thành việc học gạo, diễn ra đều đều mỗi ngày. Các huấn luyện viên ‘đòi hỏi’ học sinh vươn xa hơn khả năng các em có thể đạt được, ngay cả khi việc đòi hỏi ấy tạo nên ‘sai sót’ tầm 50- 75%, vì mục tiêu là nhắm vào tạo lập các cải thiện nho nhỏ mỗi lần… Trẻ bị thách thức, động viên và đề nghị dấn thân. Bố mẹ các em ngạc nhiên biết bao bởi sau một thời gian ngắn, con em họ đã tiến bộ trông thấy.

Có hàng tá khác biệt quan trọng giữa hai kịch bản nêu trên, song ở đây chỉ muốn nhấn mạnh duy nhất một thứ. Trong lớp học truyền thống, thành công được đo bởi việc thể hiện sự giỏi giang, lão luyện, thuần thục và chính xác: một dạng thức đo lường cho hiệu năng tiến hành. Đo lường hiệu năng không xấu, song nếu chúng ta mải mê với sự kiện rằng hiệu năng là cái đợi mình sau chặng đường dài của cái gọi là ‘học hỏi’ thì rồi mình sẽ dễ thành người như bé Lan (thường học tập không cần mấy cố gắng, và không biết làm sao khi gặp chuyện khó nhằn), hoặc như Dũng (dù không ngừng học hỏi song lại cảm thấy kém cỏi vì không đạt mức hiệu năng cao như Lan), hoặc là Hoa (bị đẩy ngồi vượt cao hơn trình độ song không ai phản hồi hoặc giúp đỡ và do đó, bị tổn thương đến độ dễ thấy mình tuyệt vọng, không học tập nổi).

Cho dù chuyện hướng dẫn cá nhân cho mỗi một em học sinh là điều không thực tế lắm, vẫn tin rằng những gì các huấn luyện viên bơi lội biết rõ và thực hành xứng đáng đem vào từng lớp học. Những học sinh tài năng như Lan cần hiểu rằng tài năng của các em không phải là thứ vé ưu tiên để vào cửa hàng bánh kẹo ăn uống thoải mái, và rằng có thể các em thừa khả năng học hỏi mà không cần gắng sức bao nhiêu khi còn bé, song trừ khi các em trở nên thành thạo trong ứng dụng các kỹ năng từ chất liệu học hỏi nằm bên ngoài vòng tay nắm bắt của mình, bằng không các em sẽ khuyết tật về mặt học thuật ngay khi tốt nghiệp, rời nghế nhà trường phổ thông hoặc đại học. Tất cả học sinh tựa bạn Dũng, những người học hành chăm chỉ song thất vọng với bản thân đến độ ngóng trông sang các học sinh tài năng bay bổng nhẹ nhàng mà cóc thèm đầu tư bao nhiêu, cần biết rằng đâu là điều mà những người học hỏi thực sự đang tiến hành.

Thói quen áp dụng năng lực tập trung chú ý và chuyên cần, chăm chỉ hình như bắt đầu đã được ít nhiều đánh giá cao hơn các điểm số bài thi và bằng cấp. Và vì các em như Hoa ở đời, những học sinh sẽ bị vứt xuống đáy tháp tức khắc nếu không sẵn sàng, cần biết rằng không có khả năng thực hiện một nhiệm vụ nào đó chẳng phải là lời buộc tội, nó đúng hơn là dấu chỉ để kiếm tìm nguồn cơn của vấn đề và truy cầu một cách thức vòng qua trở ngại để học hỏi.

Nếu chúng ta xác định việc học hỏi quan trọng hơn hiệu năng thể hiện thì rồi tôi tin, chúng ta sẽ được nhìn thấy ở trong các ngôi trường hiện nay trên khắp đất nước còn vô vàn khó khăn này những gì từng chứng kiến ở lớp học bơi: cam kết đầy hứa hẹn, nhiệt tình năng động, và tiến bộ không ngừng vượt xa mọi kỳ vọng, mong chờ của chúng ta.

Những biểu hiện khó ngờ của trạng thái trầm cảm

Bạn có từng bao giờ lưu ý rằng sự tức giận chính là thành phần của trầm cảm?

Nhiều người chúng ta trải nghiệm trầm cảm ở một vài mức độ nọ kia. Chúng ta cảm thấy khó chịu và đôi lúc các cảm xúc vặn thắt thường kèm theo uất kết, kiểu tuyệt vọng và chán chường, hụt hẫng rồi rối rắm. Mình có thể lưu ý tới các triệu chứng khác của trầm cảm như thiếu sinh khí và động cơ, ngủ li bì, thôi hứng thú háo hức với những hoạt động vốn rất ưa thích. Cảm giác khoái sướng giảm sút thấy rõ và mình dễ nảy sinh trạng thái mắc kẹt và cảm giác tức giận, thậm chí cả khi chúng đúng là không phải thế đâu. Diễn giải lầm lạc về sự tức giận có thể làm trầm cảm thêm phần chịu đựng nặng nề hơn.

Tức giận thuộc phần tự nhiên trong hệ thống bảo vệ. Khi cảm thấy bị đe dọa, chúng ta thường có xu hướng chống lại, bỏ chạy, hoặc tê cứng. Khi tức giận thành một phương thức để bảo vệ chúng ta khỏi bị tổn thương thêm với các cảm xúc như là buồn đau, tội lỗi, tổn hại, hoặc sợ hãi thì trầm cảm sẽ tự hiện diện ở bề ngoài dưới hình tướng tức giận trong khi các cảm xúc mềm yếu hơn khởi động trò diễn bên dưới. Tức giận cũng lộ ra với nhiều dạng thức từ thiếu kiên nhẫn, buồn chán hoặc cường điệu khắp lên để cảm thấy điên cuồng hoặc sôi máu. Một số người bày tỏ tức giận thông qua việc đóng sập, người khác giàn giụa nước mắt, và ai đó thì dễ nhảy ùm ngay vào liền để giáp mặt, chạm trán luôn.Tất cả các biểu hiện ấy có thể thuộc về trầm cảm.

Tức giận có thể phá hủy như nào phụ thuộc vào mức độ và phản ứng đối với cảm xúc. Nếu mình giữ tức giận trong lòng, mình dễ trải nghiệm sự lạm dụng bản thân hơn hoặc các biểu hiện thể lý về sự tức giận. Nếu bùng phát ra ngoài, quăng ném tức giận vào những người khác, e các hậu quả tiêu cực càng tăng thêm. Chúng ta có thể dính dáng tới pháp luật, mất việc làm hoặc tàn phá quan hệ thiết yếu. Khi chúng ta văng khùng hoặc nổi điên không kiểm soát, chúng ta tạo ra sự hư mòn quá đáng và làm đổ vỡ các mối quan hệ; việc biểu đạt thụ động sự tức giận cũng gây nên tổn thất lớn.

Làm thế nào bắt đầu giải quyết cơn tức giận khi mình nhận ra tác động ghê gớm với đời sống đây? Các chương trình quản lý cơn giận, ví dụ, có thể đem lại phương thức tốt để bắt đầu vén lộ các vấn đề. Nhiều chương trình ngắn hơn có thể giúp khám phá về tức giận, tức khám phá nguồn nhiên liệu nuôi dưỡng tức giận. Cần tự hỏi mình, các cảm xúc nào đi cùng với sự tức giận? Điều gì xảy ra trong quá khứ tiếp nhiên liệu cho các cảm xúc này? Ở đâu chúng ta đang lạm dụng cơn giận thái quá thay cho biểu đạt các cảm xúc sâu xa hơn ẩn bên dưới?

Khi khởi sự khám phá tất cả các cơ chế nội tại, chúng ta học cách chịu đựng các cảm xúc riêng tư. Chịu đựng không giống với việc đè nén hoăc ấn tống xuống đáy; đó là đáp ứng hơn phản ứng, cùng cuộc đời. Khi cảm thấy cơn giận kịp thời, chúng ta có thể sàng giần thông qua mắc lưới cảm xúc rồi dễ dàng định dạng các cảm xúc bên dưới. Chúng ta có thể hiểu tiến trình cảm xúc, và truyền thông thật hiệu quả các nhu cầu bản thân.

Khi học hỏi để chịu đựng các cảm xúc, chúng ta có thể tự vấn bản thân vài ba câu hỏi:

  1. Cảm xúc nào đang ẩn dưới cơn giận hoặc sự thịnh nộ ngay lúc này?
  2.  Những gì tôi không muốn cảm thấy?
  3. Cơn giận này đang chuyển tải gì đến tôi đây?
  4. Có điều gì tôi cần cảm nhận, hành động, hay bỏ mặc nó rời đi?
  5. Có phải cơn giận đang gắng khôn ngoan bảo cho tôi biết về cuộc sống hoặc một tình huống?

Nhờ xúc tiến tìm hiểu và chú tâm nhìn vào bên trong, chúng ta có thể hạn chế, giảm bớt các phản ứng tức giận thông qua học hỏi về việc biểu đạt phù hợp nỗi niềm bất mãn, biết rõ những gì đang diễn ra trong lòng mình. Thấu hiểu sâu sắc bản thân không chỉ hạ thấp cơn giận và khiến đỡ khuây hẳn vì trầm cảm, nó còn đem tới cho chúng ta một sự phong nhiêu tốt lành mà bấy lâu có thể mình chưa từng phát hiện ra. Khi tiếp tục triển nở, học hỏi rồi thực hành các kỹ năng mới, chúng ta tạo nên ngày càng nhiều bình yên và sự thỏa mãn tràn đầy trong các mối quan hệ, giao dịch. Chúng ta trở nên con người hạnh phúc hơn, yên lặng, vững vàng và kết nối thân thiết cùng mọi người.

(còn tiếp)

Vì sao em khóc?

Mặt đào phớt trắng hồng, lòng bềnh bồng xanh trong, giời ươn ướt lặng nồng, đất dâng tình mênh mông.

Vâng, bài này tuyệt không định đùa bỡn nhằm cốt minh họa câu chuyện rằng trông thấy một cô gái (có thể chàng trai) đang ứa lệ thổn thức nên Bụt động lòng hiện lên hỏi “vì sao con khóc?”

Một cách nghiêm túc, tôi nghĩ đặt câu hỏi mang tính tu từ thế là đã sai rồi. Bởi vì ai dám chắc chắn khóc đích thị sẽ làm ta cảm thấy tốt hơn?

Theo đó, khóc đa phần không đem lại nhiều lợi lạc tích cực cho lắm, chí ít không mấy tí với tâm trạng trong ngày. Không chỉ các giai đoạn khóc lóc thường tiền triệu trước 2 ngày mang tâm trạng xuống tinh thần rồi, chúng còn liên quan với tâm trạng xuống thấp vào ngày đổ lệ và tâm trạng xuống tinh thần  liên tục vào hai ngày sau đó. Vì tâm trạng thế sau những lúc đầm đìa nước mắt nên kết quả càng tăng cường thêm; thường tâm trạng chẳng mấy thay đổi (60,8%)…

Trước khi giới thiệu tiếp các nghiên cứu tìm hiểu về cái sự khóc, cần nói ngay rằng bản thân tôi phát ứa lệ bất thần thảng thốt khi chợt đọc thấy dòng chữ diễn giải gợi tò mò khẳng định khoa học thần kinh ủng hộ ý tưởng phân tâm học của Freud ra sao:

Phát hiện của Carhart-Harris cùng cộng sự về sự kích hoạt vùng Cg25 thuộc hồi liên hợp khứu- hải mã (cingulate gyrus) ở não bộ người mắc trầm cảm nặng nhất quán với ý tưởng trừng phạt kinh khủng cái siêu tôi (supeego) ở trạng thái tách biệt trong quan hệ liên nhân cách nhằm cố sức ngăn chặn sự đổ tràn các xung năng theo mô thức Panksep đầy hoảng sợ và thù hận khỏi được ý thức.

Nhân tiện, trong cuốn sách xuất bản năm 2014, nhà vật lý lý thuyết Michio Kaku chú tâm tìm hiểu cách thức khoa học khám phá ý thức, và ông cho rằng Freud không hoàn toàn sai. Không những ông tổ Phân tâm học đã đúng về hoạt động vô thức, Kaku còn nhấn mạnh rằng các nhà khoa học đang dùng các kỹ thuật quét não để định hình thành phần não bộ tương ứng với cái tôi (ego), cái ấy (id) và cái siêu tôi (superego):

Cái tôi cơ bản thuộc vỏ não thùy trán trước trước (prefrontal cortex). Đó là nơi mình trú ngụ. Bất luận khi bạn tự hỏi mình đang ở đâu đây. Wow, đấy đúng nơi bạn đang là. Và rồi các ao ước của bạn. Chúng ta nhìn thấy trung tâm khoái lạc hiện diện ngay trung tâm não bộ. Đó là libido. Chúng ta biết địa điểm của trung tâm khoái lạc. Còn ý thức thì nằm ngay đằng sau đôi mắt bạn đó. Vỏ trán hốc mắt (orbital frontal cortex) ngay sau đôi mắt là nơi ý thức thuộc về. Và vì thế, chúng ta thực sự nhìn điều đó chuyển động.

Không rõ đáng khóc òa hay cười xòa khi khoa học cũng đã kịp tìm ra các bằng chứng mang tính hệ thống về sự giả vờ nhỏ lệ của đứa bé con. Nhiều bố mẹ nhận thấy con mình giả vờ khóc để thu hút sự chú ý, song người ta nghi ngờ liệu mới tí tuổi đầu đã biết lừa dối rồi ư. Nghiên cứu của Nakayama cho thấy không nên ấn tượng xấu về chuyện khóc vờ ở trẻ bé tí, bởi cá nhân tương tác kiểu đó rất tốt cho sự phát triển về mặt xã hội cũng như cảm xúc; trẻ có khả năng khóc vờ dễ giao tiếp không ngừng với người nuôi dưỡng theo cách này hàng ngày; khóc vờ làm tăng thêm gắn bó trong quan hệ. Ngoài ra, nghiên cứu của Nakayama còn thấy hầu hết thời gian bé khóc là do tác động tiêu cực diễn tiến; ảnh hưởng tích cực chỉ quay lại tuần tự với việc tiếp xúc thể lý với người chăm sóc, hoặc kết nối với tiếp xúc thân thể và mắt.

Má ơi, giờ thì đến lượt tôi im bặt, tắt tiếng ca luôn bởi thông tin rằng nhà trị liệu già và nhiều trải nghiệm cũng hay dễ khóc hơn khi làm việc.

Khóc vì sầu muộn, khóc do sung sướng. Thế rốt cuộc khóc đang đem lại gì cho cá nhân ta đây? Giống với nghiên cứu đã tiến hành, người thường rối nhiễu tâm căn, hướng ngoại thái quá và/ hoặc thấu cảm hay khóc nhiều hơn và dễ dàng hơn; đáng ngạc nhiên, những ai mắc trầm cảm, lo âu… lại ít liên quan tần suất hoặc sự dễ dàng để khóc. Trạng thái sức khỏe tâm thần chứ không phải các nét tính cách mới liên quan với cách thức người ta cảm nhận việc khóc; trong khi chủ yếu người tham gia (88,8%) thổ lộ khóc khiến họ khuây khỏa, bớt căng thẳng thì số ít, nhất là người mắc trầm cảm, lo âu, mất khoái cảm (anhedonia), và mù cảm xúc (alexithymia) cho biết họ cảm thấy tồi tệ hoặc cũng rứa thôi khi nhỏ lệ.

Rõ ràng, cần nhiều nghiên cứu để lý giải không phải khóc luôn làm tất thảy thiên hạ cảm thấy được an ủi, khuây khỏa. E chừng, về mặt cảm xúc, khóc thường phản ánh ‘ánh đèn thân nhiệt’. Khi sống dưới quá nhiều áp lực cảm xúc, xã hội, và cá nhân do công việc, gia đình, tiền bạc, quan hệ, v.v… chúng ta bị căng thẳng về mặt cảm xúc và thấy nóng liên miên. Tựa như ô tô, không cần nhiều để khởi sự việc khóc. Những mê hoặc khóc lóc với tần suất lớn và không kiểm soát nổi là các khuyến cáo và chỉ báo stress cao độ. Giống như đèn tín hiệu ô tô, mức độ khóc nói rằng mình đang bị cảm xúc chi phối do áp lực stress khủng khiếp. Và tựa ô tô, chúng ta cần làm mát…

Vậy xử lý sao khi khóc mãi không kiềm chế nổi?

Trước hết, cần biết rằng nhạy cảm là quà tặng. Giới tâm lý học thường nhìn mọi thứ dựa theo một thang đo và nếu thế, mình ở tót cao của ngưỡng quen thuộc; tuy thế, khả năng cảm xúc bị kiểm soát quá mức hoặc kiểm soát kém. Khi thêm vào các triệu chứng lo âu và buồn bã thì chúng ta rơi khỏi ranh giới thông thường của sự nhạy cảm.

Đây là cách hay để nghĩ về tình huống trên. Nếu mình thường vốn thế và hành vi hiện tại tương tự xảy đến nhiều năm rồi thì đấy nên được xem là thuộc tính cách. Nếu các cảm xúc mình mới xuất hiện hoặc khó kiểm soát gần đây thôi thì mình dễ đang trải nghiệm stress hoặc trầm cảm ghê gớm trong đời. Ý tưởng ‘không kiểm soát’ hàm ý như thể mình không kiểm soát được đáp ứng về mặt cảm xúc. Chúng ta thường thấy điều này khi trầm cảm, trạng thái sẽ đi kèm với các vấn đề mất ngủ, ăn uống không ngon miệng, mất năng lượng/ động cơ, thu mình ngại giao tiếp, và tâm trí mãi dính bám với quá khứ. Trầm cảm khiến nảy sinh suy tư, hình dung và huyễn tưởng u uẩn…

Thế đang cười rồi chuyển sang khóc òa thì như nào?

Nhiều người chối bỏ hoặc tránh né các cảm xúc không kiểm soát được– vô thức hoặc ý thức. Người ta dùng đủ kiểu chiến lược khác nhau để lờ đi các cảm xúc gây đau đớn, từ việc bị quấy nhiễu do công việc, lạm dụng chất, cho tới việc khước từ thẳng thừng luôn. Điều quan trọng nên nhớ là khi mình bị chèn ứ cảm xúc, chúng không thoát ra được; chúng có thể lặn xuống đáy sâu cả thời gian dài rồi đột ngột trồi lên bề mặt.

Dốc ngược cảm xúc có thể biểu hiện dưới dạng thức của cơn sợ bị tấn công, hoặc chúng có thể thuộc về chuyện quá bất ngờ, nhất là khi mình đang sung sướng, ngất ngây. Có thể khi mình cho phép một cảm xúc trồi lên bề mặt, ngay cả đấy là cảm xúc hạnh phúc tích cực và cười đùa vui vẻ thì đồng thời mình cũng mở toang cho các cơn lũ cảm xúc ùa ra ào ào.

Cách tốt nhất để xử lý tình tình huống này là có cái nhìn thành thật với những gì có thể đang ứ tràn. Có trải nghiệm đau đớn nào trước đây mình chưa xử lý? Có thể đây là dịp tiếp cận với nguồn gây cảm xúc đau đớn, nhất là khi mình đã dốc ngược vào trong lòng các cảm xúc một thời gian dài. Sẽ hữu ích để khởi sự làm bảng kiểm hàng ngày tự theo dõi về các trải nghiệm cảm xúc; tiến hành xem xem bản thân bao nhiêu lần mỗi ngày nhận ra các cảm xúc hiển thị. Hãy thành thật. Thử gọi tên, gán nhãn với cảm xúc đang hiện diện. Nhớ rằng chúng ta mỗi lần thường có nhiều hơn một cảm xúc. Đấy là cách bắt đầu khơi lên cái tôi cảm xúc và nâng cao khả năng tự ý thức.

… Nguồn cơn của việc khóc khi nói lời chào tạm biệt là ‘ký ức cảm xúc’. Não bộ lưu giữ các chi tiết trải nghiệm và cảm xúc kinh qua cùng lúc. Khi một ký ức cảm xúc được tạo ra, bất kỳ sự kiện tương tự nào cũng có thể là cớ đào bới, khai quật và khiến hồi tưởng ký ức và các cảm xúc từ xa xưa. Bằng thái độ hoặc thói quen hành xử kỳ cục, não bộ phản ứng đầy cảm xúc với những gì chúng ta tưởng tượng cũng như những gì mình suy tư quyết định điều mình cảm nhận.

Có thể lý giải việc đôi khi trong quá khứ mình từng trải nghiệm một cuộc chia ly phiền muộn: lạc mất bạn tốt, bố mẹ đi xa/ ly dị, người thân qua đời… Não mình tạo nên một ký ức cảm xúc về sự kiện. Theo thời gian, với mỗi lần tạm biệt, não không chỉ lôi kéo ký ức cảm xúc đó về mà nó còn khởi sự thêm vào nỗi niềm lo lắng và những cảm xúc khó chịu. Mình sẽ thấy rằng mình bắt đầu nhấn mạnh về lời chia tay nhiều ngày trước khi sự kiện diễn ra. Với mỗi lần tạm biệt, ký ức cảm xúc trở nên rộng lớn và mãnh liệt hơn. Sự dấn vào căng thẳng này làm tăng thêm cường độ cảm xúc đạt đến điểm gây bùng phát khi lời chia tay đã đến, tạo ra cơn khóc lóc khó dừng lại…

Mẫu hình này thực sự rất thông thường. Nó giải thích tại sao cô dâu, chú rể yếu mềm, thiếu dũng cảm ở lễ cưới. Tiếp nạp bởi cảm xúc quá mạnh mẽ đủ khiến họ ngập tràn thái quá xuyên suốt thời gian sự kiện diễn ra. Vấn đề không nằm ở lời nói chia tay, tạm biệt mà nó đã khởi động sẵn rồi độ căng thẳng từ trước vốn kéo dài khá lâu. Mình trở nên quá kiệt sức về mặt cảm xúc đến độ khóc là cách đích thị giúp mình phóng thích và làm thuyên giảm cường độ mãnh liệt của cảm xúc.

Vậy đấy. Khi mình bắt đầu nhân biết các cảm xúc, bước tiếp theo là phá hiện những gì mình thấy cần thiết để tự chăm sóc bản thân. Cảm xúc là thông tin. Khi lắng nghe chúng, mình cho chính mình cơ hội để chăm sóc mình tốt hơn rồi tìm ra được cách thức để cảm nhận tốt hơn nữa.

Lợi lạc của công tác tiếp thị trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần

Sự thật khá kỳ cục, các rào cản lớn nhất để làm cho việc marketing trở nên thiếu hữu hiệu đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần tư nhân thực tế lại không dính dáng nhiều đến tự thân chuyện tiếp thị, hoặc chẳng liên quan bao nhiêu với việc cạnh tranh cả.

 Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần, trở ngại lớn nhất e chừng khởi đi bởi các viễn tượng nảy sinh bên trong lòng cá nhân người hành nghề, do các giả định và thành kiến sẵn có của họ. Chí ít phảng phất hai chuyện:
  • các vấn đề thực tế, liên quan đến chuyện thật ở đời
  • các vấn đề triết lý, liên quan đến chuyện gì được cho là ‘đúng đắn’

Các vấn đề thực tế thì dễ làm rõ bởi vì chúng phụ thuộc vào cách cuộc đời vốn đích thị như nào. Các vấn đề triết lý thì thú vị hơn và phụ thuộc vào quan điểm cá nhân người ta, nghề nghiệp và đời sống của chính họ.

Một ví dụ cho vấn đề thực tế là không ít người tin rằng (đúng hoặc sai) là cơ quan, văn phòng, trung tâm chuyên nghiệp đáng kính của họ cấm bất kỳ hoạt động marketing hoặc quảng cáo nào. Không thực sự có cuộc tranh luận gì với loại vấn đề này. Đó thuần là chuyện kiểm nghiệm để biết thật, giả ra sao: chính xác thì chính sách của các đơn vị là gì? Ngay cả thế, nếu mình tin mình bị ngăn cấm không được làm điều gì đó thì bản thân sẽ ít thích thú tiến hành gì vụ đó.

Ví dụ không hoàn toàn là vấn đề đơn giản song vẫn khá sát hợp với sự tinh tế có tính triết học hoặc dính dáng tới tầm nhìn cá nhân ở đời: một số người cho rằng marketing là tương tự với quảng cáo. Nếu nghĩ vậy thì cũng hay vì chứng tỏ công ty của mình tốt. Thực tế không khó đoán, nhiều tài liệu bìa ngoài là về marketing song trong ruột đầy tràn các lời khuyên về quảng cáo. Kỳ thực, quảng cáo chỉ là một phần của marketing, phần rất đặc biệt về các cách thức truyền đi một thông điệp marketing cụ thể, thường nhắm tới khách hàng tiềm năng của sản phẩm hoặc dịch vụ. Bắt chước kiểu nói của dân marketing, đó là phần từ trong ra ngoài (inside-out), tức lan truyền thông tin, hơn là phần từ ngoài vào trong (outside-in), tức lắng nghe và nắm bắt nhu cầu khách hàng rồi thích ứng để thỏa mãn họ. Ở đây, lần nữa, nếu mình vốn tin rằng marketing và quảng cáo là như nhau, mình biết (tỷ dụ thế) là mình không thích quảng cáo thì rồi mình có thể không nhất thiết được khuyên can đừng làm bất kỳ hoạt động marketing nào (!)

Từ mối quan hệ giữa các vấn đề thực tế và marketing vừa nêu, nảy sinh các câu hỏi về marketing. Hấp dẫn hơn nhiều so với hai ví dụ chán ngán bên trên, là vấn đề làm cách nào mà mình, như một cá nhân hành nghề, nhìn nhận marketing và vị trí của nó trong tập hợp các suy tư lẫn cảm xúc về công việc, về thân chủ, về đời sống rộng lớn hơn bên ngoài công việc chuyên môn, và về vai trò của bản thân trong sự chuyển đổi thương mại gồm thời gian và công sức bỏ ra để thu lại tiền bạc, lời lãi. Các vấn đề này đa phần phát sinh từ quan điểm của mình về bản thân và về chuyện đâu là con đường, cách thức đúng đắn hơn là thuộc vấn đề của thế giới thực tế thường nhật.

Khi lọ mọ tìm hiểu vấn đề marketing trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần, tôi nhận thấy đó chính là câu chuyện phản ánh vị thế độc sáng của người làm chuyên môn.

Rất thường, các vấn đề ấy gợi cả lố lo lắng khó chịu, bất định, lảng tránh, đôi lúc còn là ước muốn ‘tuyên bố quan điểm’ dứt khoát của bản thân về chiều kích thế này, thế khác… Song bất luận phản ứng ra sao, thậm chí chỉ cần khởi sự cân nhắc các vấn đề đã nêu là đã tạo nên một sự bắt đầu quan trọng hướng tới việc hiểu biết tốt hơn cách nhìn nhận thực tế không thể chối bỏ liên quan đến nghề nghiệp chuyên môn của bản thân.

Nhờ phản ánh quan điểm cá nhân về marketing và một số khái niệm liên quan cận kề mà mình có thể dần nhận ra các sức mạnh tiềm tàng trong marketing, điểm yếu chết người, và một số lĩnh vực hoặc mối quan tâm mình muốn lờ đi. Và quan trọng nhất, mình có thể vượt qua bất kỳ rào cản ngăn trở không cần thiết để marketing thành công, những rào cản có thể dựa trên điều mình không thực sự nghĩ một cách cụ thể trước đây hoặc chỉ đơn giản là do thiếu thông tin mà thôi.

Bởi việc tiếp tục kiên trì khám phá, nghi vấn, kiểm nghiệm, thử giả định, và phản ánh mà tôi tin mình có thể dần hiểu biết tốt hơn lên về người bạn đồng minh tốt nhất trong công việc marketing.

Cả thực tế lẫn lý thuyết đều chứng tỏ rằng nắm bắt cơ bản về marketing sẽ giúp mình khớp nối với những người khác (thân chủ tiềm năng, người sử dụng lao động, v.v…) về những giá trị nào mà dịch vụ của mình đem lại cho họ, và cả việc hiểu biết điều gì đó thuộc cảnh quan cạnh tranh bên trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần đặc thù mà mình thao tác.

Như thế, lợi lạc đầu tiên nhờ hiểu biết cơ bản marketing là sẽ giúp mình tiến hành hòa hợp với các nhóm khác nhau, cả khách hàng tiềm năng hoặc các nhà quản lý, ông bà chủ cơ quan, đơn vị liên quan: tại sao họ nên quan tâm, dù bé tí thôi, những gì mình có thể làm được cho họ.

Vi tế hơn chút, căn bản marketing sẽ giúp mình kết nối với các nhóm người đánh giá cao dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu của họ. Rốt ráo, không có hiểu biết về giá trị mình sẽ cung cấp, tại sao một thân chủ hoặc người quản lý nào đó phải sử dụng dịch vụ của bên mình?

Để khớp nối thông điệp giá trị này đòi hỏi:

  • hiểu biết các nhu cầu của người khác thực sự là gì,
  • cần thiết thích ứng đến độ mình có thể thỏa mãn các nhu cầu đó, và
  • giao lưu, truyền thông từ viễn tượng của họ để giá trị trong dịch vụ của mình làm sao thỏa mãn các nhu cầu họ mong muốn.

Thưc tế thì không phải vấn đề truyền thông và hiểu biết là câu chuyện dễ dàng tinh thông đối với những ai hành nghề dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần? Tuy có thể đúng thế thật, song tin xấu là không nhiều người hành nghề giỏi giang việc áp dụng trực tiếp các kỹ năng họ sở đắc trong chuyên môn vào nhiệm vụ marketing.

Rõ ràng dễ thấy là nhờ áp dụng các kỹ năng nhằm chuyển tải thông điệp giá trị trong công việc đang theo đuổi, mình sẽ sửa soạn tốt hơn để:

  • bước vào hành nghề tư nhân,
  • có nhiều thân chủ hơn trong công việc đang làm, hoặc
  • kết thúc các nghiên cứu rồi tìm ra phân khúc thị trường phù hợp với chuyên môn.

Lợi lạc thứ hai nhờ hiểu biết căn bản marketing là nó sẽ giúp mình hiểu biết bối cảnh cạnh tranh bên trong lĩnh vực chuyên ngành mình theo đuổi rồi định vị bản thân hoặc công việc phù hợp bối cảnh đó. Đây là chiến lược thị trường, nó suy cho cùng là áp dụng hiểu biết marketing cơ bản để nâng cao và hướng đích ‘giá trị đề nghị’ của bản thân, ví dụ, khớp nối giá trị mình cung cấp, đối với một lượng khách hàng lĩnh hội được và sẵn sàng chi trả cho giá trị mình cung cấp.

Học hỏi từ trải nghiệm: nói lại cho rõ

Cách tốt nhất để học hỏi là từ trải nghiệm, song tự thân trải nghiệm không thôi thì không đảm bảo toàn bộ câu chuyện. Học hỏi không thuần túy chỉ là chuyện giáo dục hoặc trải nghiệm; chúng ta cần cả khuyến khích sự phát triển cá nhân nữa.

Có thể rất khó nhằn để học hỏi từ trải nghiệm. Cơ chừng đe dọa chúng ta, trải nghiệm dễ khiến ta thấy yếu ớt hoặc tự nghi ngờ bản thân, song chính nó lại cũng làm ta mạnh mẽ hơn lên. Thông thường, những gì trải nghiệm đem đến là định dạng con người đang là của chúng ta.

Tôi tin, đa phần chúng ta thấy rằng hầu hết trải nghiệm cho mình một cơ hội để phát triển cá nhân, song để tận dụng lợi thế ấy, chúng ta cần suy nghĩ về cách thức bằng cách nào trải nghiệm có thể tạo điều kiện cho mình học hỏi.

Tỷ dụ, một người đàn ông gặp khó khăn lớn trong công việc. Anh ta bắt đầu nghĩ bản thân là vấn đề. Các đồng nghiệp truyền gửi thông tin ngấm ngầm rằng anh  ta chắc đang phải “rất khổ sở, mất ăn mất ngủ”. Anh ta tin họ để rồi tự mình đổ tội. vơ mọi thứ vào mình. Anh ta không tìm thấy lối thoát và vì thế, rốt cuộc, xin nghỉ việc.

Làm thế nào trải nghiệm làm dễ dàng và thuận lợi hơn cho việc học hỏi? Thay vì nghỉ việc, anh ta có thể suy tư: “Những nguyên nhân nào tạo nên các khó khăn này, và làm cách nào tôi/ chúng ta có thể thay đổi hoặc cải thiện được tình hình đây?”. Cơ chừng, anh ta đã đúng khi ra quyết định nghỉ việc. Cơ chừng, anh ta cho việc bỏ đi là giải pháp dễ hơn nhiều. Quan điểm cá nhân ở đây, chúng ta hay để nhỡ, đánh mất rất nhiều cơ hội để học hỏi, đơn giản chỉ bởi vì chúng ta quên phản tư:

Học hỏi từ trải nghiệm là một trong những phương tiện căn cốt và tự nhiên nhất tương hợp với tất thảy mọi người… Tất cả điều nó đòi hỏi chỉ là phản tư và suy nghĩ, tự mình thôi hoặc với sự cộng tác, hợp sức của người khác.

Theo lý thuyết học hỏi từ trải nghiệm, chúng ta hiểu biết thông qua vòng tròn học hỏi. Trải nghiệm của chúng ta phục vụ nền tảng cho việc phản tư (reflelctions). Từ những trầm mặc suy nghĩ đó, chúng ta phát triển các ý tưởng về thế giới. Rồi chúng ta kiểm tra, trắc nghiệm xem chúng có đích thực là sự thật, và rốt ráo chúng ta có một trải nghiệm mới mẻ. Vòng tròn trải nghiệm không nhất thiết khởi từ trải nghiệm, chẳng hạn, chúng ta có thể nảy sinh ý tưởng mình muốn test thôi:

Suy nghĩ… là nỗ lực được dự tính trước nhằm khám phá những nối kết đặc thù, cụ thể giữa điều gì đó chúng ta thực hiện với các hậu quả tác thành, đến độ cả hai thứ ấy cứ thế tiếp diễn không ngừng (Dewey, 1916).

Có thể ít nhiều tán đồng ngay rằng “học hỏi là phương tiện nhờ thế chúng ta đạt được không chỉ kiến thức và kỹ năng mà còn cả giá trị, thái độ và phản ứng mang tính xúc cảm nữa” (p.4).

Theo đó, học hỏi là sự thay đổi dài hạn trong sự biểu trưng hoặc liên kết trong tâm trí như kết quả của trải nghiệm. Từ định nghĩa, nó gồm ba phần: 1) học hỏi là sự thay đổi dài hạn: nếu nó không phải là việc sử dụng thông tin ngắn ngủi, thoáng qua như kiểu ghi nhớ số điện thoại đủ để gọi cho ai đó rồi quên đi thì rõ ràng nó không cần phải lưu tâm mãi mãi. 2) học hỏi là những biểu trưng hoặc liên kết trong tâm trí vì thế nó cơ chừng đặt để nền tảng ở não bộ. 3) học hỏi là một sự thay đổi như kết quả của trải nghiệm, hơn là tựu thành của sự trưởng thành về mặt sinh lý, trạng thái mỏi mệt, dùng bia rượu ma túy, đang cơn mắc bệnh tâm thần hoặc mất trí nhớ.

Chúng ta cần phản tư trải nghiệm bản thân để khuyến khích việc học hỏi suốt đời và phát triển cá nhân, do vậy, trải nghiệm tự thân nó không thôi chưa đủ:

Khi chúng ta kinh qua một trải nghiệm, điều ấy không luôn luôn dẫn tới những hiểu biết và học hỏi mới mẻ. Ví dụ, nếu trải nghiệm chỉ phục vụ nhằm xác nhận một vài niềm tin mình vốn quen nắm giữ thì nó sẽ đóng vai trò diễn giải đặng hỗ trợ cho nhận thức nguyên trạng bấy lâu mà thôi (tham khảo lý thuyết nhận thức của Piaget), và nó ít chú ý tới sự đáng giá của trải nghiệm. Nếu chúng ta không chú tâm vào thì cơ hội học hỏi mới mẻ sẽ không hề xảy ra (pp. 15-20).

Liệu pháp với người đang mắc Rối loạn Nhân cách dạng Tâm thần phân liệt

Mục tiêu trị liệu với người đang mắc Rối loạn Nhân cách dạng Tâm thần phân liệt (SPD) sẽ khởi sự bằng việc cân nhắc chuyện thiết lập niềm tin tưởng đặc thù trên tiến trình đạt được lời thỉnh cầu trao đổi, đón nhận và cho phép đưa ra lời thảo luận, bộc lộ và đặt các câu hỏi. Các mục tiêu cảm xúc sẽ góp phần nâng lên sự chịu đựng và dung thứ tình cảm lẫn cảm xúc của thân chủ.

Có thể hiểu, SPD là trạng thái mãn tính và lan tỏa đặc trưng bởi các mẫu hình hay gây gổ trong suy tư, hành vi và chức năng. Kiểu dạng rối loạn nhân cách này được cho là khá hiếm hoi và thường ảnh hưởng ở đàn ông nhiều hơn phụ nữ. Các cá nhân mắc SPD cũng gặp nguy cơ trầm cảm. Thuật ngữ “chứng loạn tinh thần” (schizoid) dùng mô tả người có khuynh hướng vào trong lòng mình và thoát khỏi thế giới bên ngoài.

Nhân cách dạng tâm thần phân liệt (SPD) thể hiện hướng vào trong quá mức với một khung tham chiếu ghê gớm cho việc nội quan cũng như kiếm tìm sự cô độc. Các cá nhân mắc rối loạn này dễ tách biệt, tạo khoảng cách và vô cảm với các quan hệ xã hội hoặc gắn bó thân mật. Họ là kẻ đơn côi thích hoạt động cô lẻ và ít biểu lộ cảm xúc. Dù tên của rối loạn nghe như dạng tâm thần phân liệt với vài ba triệu chứng tương tự, điều quan trọng cần nhớ rằng rối loạn nhân cách dạng tâm thần phân liệt không giống với tâm thần phân liệt. Nhiều cá nhân mắc rối loạn này hoạt động chức năng tốt và tiếp xúc với thực tế trong khi người mắc tâm thần phân liệt thì phân tách khỏi thực tế. SPD cũng giông giống với rối loạn nhân cách lảng tránh (APD), tuy nhiên điểm khác biệt ở chỗ là người lảng tránh thì có ước ao tham gia xã hội trong khi người dang SPD thì lại ưa thích cô độc và vô cảm đối với sự chấp nhận hoặc chối bỏ của tha nhân.

Về mặt hành vi, mục tiêu làm việc với người mắc SPD là dạy các kỹ năng xã hội và tính xác quyết, củng cố thêm các gắn bó với người khác, tăng cường hòa nhập cộng đồng và làm giảm thiểu các ứng xử tách biệt, thu mình. Về mặt nhận thức, mục tiêu thông qua sự phân biệt giữa các suy tư hợp lý và rối loạn, để thân chủ học hỏi cách sống với sự mơ hồ lần lữa. Nhà trị liệu nên nhắm đến chuyện điều chỉnh các suy tư về bản thân và tha nhân, và dạy các cơ chế phòng vệ mà có thể dùng thật ý thức hơn là các cơ chế trục trặc tỷ như cơ chế chối bỏ và phóng chiếu làm duy trì rối loạn.

Kiến tạo một môi trường an toàn

Điều nhà trị liệu cần nhớ là các cá nhân mắc rối loạn này dễ nảy sinh mối quan tâm về năng lực của họ trong việc đối phó với trạng thái gần gũi và thân mật với nhà trị liệu. Hậu quả, nhà trị liệu phải nhìn ra sự tiếp xúc giữa mình với thân chủ là thành tố thiết yếu sống động của trị liệu. Xác lập một mối quan hệ thấu cảm với thân chủ nhằm đảm bảo một môi trường quan hệ an toàn là điều cốt tủy; một môi trường như thế cũng cần chú ý không phô trương bởi sẽ khiến cái tôi dễ bị tổn thương của thân chủ trỗi lên trở lại.

Cũng quan trọng với nhà trị liệu là gắng đạt tới một sự thấu hiểu cách thức và lý do tại sao thân chủ đi vào “ẩn náu, trốn tránh”. Muốn được thế, nhà trị liệu phải cẩn trọng và ý thức rằng các nỗ lực tiếp xúc và truyền thông dính sâu xa với quan hệ có thể được thân chủ trải nghiệm như một sự xâm phạm, lấn vào và khích động họ thu mình, xa cách.

Sự dàn xếp, thỏa hiệp mang đặc trưng tâm thần phân liệt là nỗ lực của cá nhân đặng tạo nên sự an toàn khỏi những người khác thông qua trạng thái cô lập trong khi kiểm soát độ căng giữa sự cô lập và trạng thái bị mắc bẫy hoặc bị nô lệ hóa như hậu quả nảy sinh của sự cô lập như thế. Nhà trị liệu cần biểu tỏ một sự thấu hiểu về nghịch lý mang tính tâm thần phân liệt vốn là kết quả từ sự thỏa hiệp ấy và đưa ra một diễn đạt hòa hợp. Trị liệu rối loạn này thường sẽ chậm chạp với những bước tiến bộ nhỏ nhặt; bởi vì chiều dài thời gian và nhịp bước rề rà đó, thường không khó thấy các nhà trị liệu quá dễ giảm sút mối quan tâm.

Mặt khác, có thể giá trị ở mối quan hệ trị liệu vượt trên cả sự ý thức nhà trị liệu nhân ra sẽ đem lại lợi lạc ở một số chiều cạnh. Tỷ dụ, thân chủ có thể yêu cầu nhà trị liệu cho biết cách thức họ đang làm việc cùng nhau. Trong khi đây vốn là câu hỏi tương tác đơn giản, nó dễ gợi ý rằng thân chủ đang hợp trội trong một mối quan hệ và đang thiết lập một sự gắn bó với nhà trị liệu và nhà tri liệu có thể không hề nhận ra điều ấy. Nhà trị liệu phải chú tâm dõi theo mối quan hệ trị liệu, ghi chú về nó và chịu trách nhiệm một cách có ý thức cũng như thật thích hợp đối với cái tôi dễ bị tổn thương của các thân chủ khi nó khởi lên.

Làm việc với các cơ chế phòng vệ

Khi làm việc với vấn đề phòng vệ thể hiện tính chất tâm thần phân liệt, mục tiêu nhà trị liệu nhắm tới là khám phá chức năng của tiến trinh phòng vệ và tiến bộ thông qua các cơ chể chứa nhiều yếu tố bị đè nén và giấu che của cái tôi dễ bị tổn thương. Các phòng vệ được nhìn nhận như mẫu hình của hành vi hoặc suy tư mà người ta dùng để bảo bọc bản thân khỏi nỗi đau cảm xúc hoặc khó chịu khởi từ các tình huống đời sống hiện tại vốn thường liên quan sâu xa với ký ức thời thơ ấu đầy đau đớn. Các phòng vệ này giúp cái tôi dễ bị tổn thương đè nén các cảm xúc và nhu cầu kết nối, quan hệ.

Cùng với sự kiềm nén, các phòng vệ khác như lảng tránh, thu mình, trơ lỳ về mặt cảm xúc và cách biệt nên được xử lý bằng đáp ứng trị liệu phù hợp là xem xét việc định danh, độ hiệu lực, và bình thường hóa các phòng vệ đồng thời thấu hiểu chức năng của chúng. Khi các phòng vệ này cho thân chủ cảm thấy ổn thỏa và được dùng như cơ chế đối phó, cần lưu ý để đảm bảo cả thân chủ lẫn nhà trị liệu có thể giải quyết cảm xúc ẩn bên dưới. Mục tiêu của nhà trị liệu là tăng cường thêm sự khoan thứ với cảm xúc và việc biểu đạt các cảm xúc.

Một số hoạt động mà nhà trị liệu có thể tiến hành:

1. Giúp thân chủ bộc lộ cảm xúc với người khác để thân chủ cảm thấy mình có khả năng kết nối với tha nhân

Ví dụ, nhà trị liệu có thể nói: Vậy là B, con chó nhà anh, không sống qua cuộc phẫu thuật được, và thật buồn là nó chết rồi. Hiện anh cảm thấy như thế nào về chuyện đó?

Thân chủ: Về điều gì kia?

Nhà trị liệu: Về cái chết của con chó B. nhà anh đó. Tôi đoán là anh hẳn cảm thấy buồn.

Thân chủ: Tôi cho rằng thế, tôi nghĩ thế.

Nhà trị liệu: Thế còn T. con trai anh, cậu bé cảm thấy như thế nào về cái chết của B.?

Thông qua việc khuyến khích tiến trình học hỏi xã hội, thân chủ sẽ bắt đầu nhận ra và thấu hiểu các cảm xúc khác nhau ở người khác cùng lúc với việc họ có thể mô hình bắt chước, việc này đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực tri nhận sự thân mật, gần gũi và trao đổi qua lại ở thân chủ.

2. Các bài tập phản ánh

Hoạt động này nhằm khuyến khích thân chủ phản ánh một điều tình cờ xảy đến trong đời họ mang tiềm năng đánh thức một cảm xúc. Thân chủ nên được động viên nói về các cảm xúc của họ và cảm xúc của những người khác khi thân chủ đã hiểu và phản ánh sự kiện liên quan. Thân chủ cũng được khuyến khích ghi lại nhật ký phản ánh những suy tư và cảm xúc liên quan đến sự vụ hàng ngày; bài tập này giúp thân chủ nhận ra các cảm xúc của riêng họ rồi biểu đạt chúng.