Khi người vẫn ưa thích và chưa chán sống ở phố thị…

Dịp thành phố quê nhà kỷ niệm ngày giải phóng trôi qua lâu rồi, chắc giờ này nguồn nhiệt hứng khởi hừng hực đã vơi giảm ít nhiều. Đọng lại dấu ấn đô thị chắc là mấy từ trỏ việc làm cụ thể nay mai: phía Tây (mở rộng), sông Cổ Cò (nạo vét để du lịch đường thuỷ vào Hội An), Hoà Vang (phát triển).

Thành phố đáng sống hẳn là thành phố đảm bảo các chất lượng sống khá cao. Cả trên bình diện quốc gia, ảnh hưởng của văn hoá và xã hội lên sức khoẻ tâm trí vẫn còn là đề tài mông lung. Cần biết, tuy xã hội đặt để các quy tắc ứng xử chung song không phải mọi kỳ vọng của xã hội đều thuộc lĩnh vực đạo đức (morality); chúng ta vì thế, cần một cách thức độc lập trong việc lượng giá các tục ước (convention) nào là luân lý (ethics) và cái gì thì không. Do luân lý độc lập với các giáo lý nên nó độc lập với các tục ước xã hội. Và thường thì có 3 nơi hồi quy hành vi xã hội: cá nhân, các tục ước xã hội, và đạo đức.

Vào thời điểm mà các thành phố, trong đó có Đà Nẵng, chuẩn bị sẽ đi vào sự trải nghiệm tăng trưởng theo cấp số nhân, cùng với dân số vọt cao thì càng phải biết thấu đáo ảnh hưởng của môi trường đô thị tới hạnh phúc cùng sức khoẻ ra sao.

Ghê ta.

… Mấy đoạn trên khởi thảo đã hơn nửa năm mà giờ bài còn dang dở. Tối nay định vội vàng hoàn thành chỉ như là cách để tránh rét lúc xa nhà.

Giữa đớn đau vì mất mát, nhận ra giận dữ và thất vọng

Chắc rồi tin tức cậu học sinh lớp 10 rời xa nhà, xuống thành phố đi học ở trường tư Nguyễn Khuyến vừa lựa chọn tự tử gần đây sẽ được thay thế bằng tin tức một người trẻ nào đó lại kết thúc sớm đời mình.

Lâu nay, câu chuyện trẻ vị thành niên, mới lớn tự sát chưa bao giờ thôi gây thắc mắc, và ‘tại sao’ thường trở thành tâm điểm dò tìm, mong đợi trả lời thoả đáng. Trước một sinh mạng tuyệt tận, chúng ta ít nhiều đều bị tác động, ảnh hưởng.

Khi nghĩ tới kẻ nay đà khuất bóng, các phẩm tính nhân văn khiến chúng ta khởi sinh lòng từ bi; song khi chú mục xác định nguyên nhân gây nên cái chết, chúng ta sẽ dễ dàng cảm thấy tức giận.

Đôi khi không tức giận chi thì hoá ra đồ vô tri vô dụng, song hồ như chúng ta khó thấy rằng cơn giận chẳng mấy chốc kiểm soát chúng ta. Cần cẩn thận với sự bùng phát đột ngột. Nếu đó là sự trả đũa nhắm vào tội phạm mà không khiến những sinh linh bé nhỏ khác mang vạ, tốt; vì chẳng trả đũa gì cũng có thể sai, và nó thường bị hiểu nhầm. Và một trong những cách thể hiện bất bạo động hữu ích là vun bồi tư duy đúng đắn và có cái nhìn chắc thật, toàn diện.

Nghe xem tin tức bạo lực và chết chóc, nhiều cảm xúc xáo trộn khủng khiếp, lắm lúc thật ước gì trơ khấc, bất động đặng khỏi đau đớn, tổn thương. Song lần nữa, nếu nhìn sâu vào tâm trí mình, lối trỏ lại chỉ về hướng giận dữ. Thực tế, xảy ra điều đó cũng là bình thường, dù kỳ cùng thì không nên để cảm nhận ấy giữ mãi mức độ tức giận…

Nhân mất mát vừa qua, thử xem kiến thức tâm lý học cơ bản cho chúng ta hiểu biết gì?

Trạng thái cảm xúc bao gồm mẫu hình chứa các phản ứng nhận thức, sinh lý, và hành vi đối với các sự kiện xảy ra; nói khác, cảm xúc liên quan chặt chẽ với động cơ: chúng ta phản ứng một cách cảm xúc với các thôi thúc và mục tiêu ưng cái bụng, bị đe doạ hoặc hụt hẫng… Cảm xúc trỏ các cảm giác chứa đựng sự đánh giá chủ quan, các tiến trình sinh lý, và niềm tin nắm giữ lâu nay.

Trong khi đó, tâm trạng thì là trạng thái khuếch tán cảm xúc kéo dài mà nó quấy nhiễu ghê gớm cả suy tư lẫn các hành vi, ứng xử.

Còn stress được hiểu là mẫu hình gồm các đáp ứng mang tính hành vi và sinh lý đối với các sự kiện mà năng lực người ta phù hợp hoặc quá tải.

Nôm na, khả năng phục hồi là phẩm tính sáng giá mà ai đó bị đời đánh bầm dập, lên bờ xuống ruộng te tua xơ mướp chẳng hạn vẫn đủ sức chịu đựng, quay về ‘lợi hại hơn xưa’. Thay vì bị thất bại đè bẹp hoặc cạn kiệt giải pháp, người sở hữu khả năng phục hồi tốt có thể tìm ra cách ‘rũ bùn đứng dậy sáng loà’. Một số yếu tố đảm bảo sự phục hồi hiện thực là thái độ tích cực, lạc quan, khả năng điều chỉnh cảm xúc, và cả khả năng nhìn thất bại dưới dạng giúp mình phát hiện các khiếm khuyết cần bổ sung, thay đổi…

Làm kẻ mới lớn đồng nghĩa là tâm tính khó yên ả, cảm xúc đôi hồi bất chợt, náo động khó hiểu, áp lực học tập, lòng tự tin, kinh nghiệm sống…  Tự sát đứng hàng thứ ba sau việc bị giết hại và tai nạn với độ tuổi từ 15 tới 24.

Dưới góc nhìn tâm bệnh học, tự sát ở tuổi mới lớn là hiện tượng phức tạp, và quyết không bao giờ vì một lý do duy nhất. Đấy là cách tiếp cận đòi hỏi tăng cường phòng ngừa với các yếu tố bảo vệ, xét yếu tố nguy cơ thì lo lắng xuất hiện khả năng tự làm hại và quyên sinh,  chẳng hạn dễ nảy sinh dự tính tự sát với người nữ, điểm học tập thấp, nghèo hèn, và không sống hoặc chỉ sống cùng với bố/ mẹ (Yeojin et al, 2017); hay người ta thấy các yếu tố sẽ dễ khiến người trẻ Thái Lan tự sát: (1) bị quát mắng thậm tệ và nguyền rủa chết đi bởi thành viên gia đình; (2) không thoả ước mong hoặc bạn trai chẳng lưu tâm trong lần đầu yêu đương; (3) mang thai ngoài ý muốn, và (4) mắc rối loạn tâm thần khiến cảm xúc bùng nổ và các xung năng bộc phát chẳng khống chế nổi (Supattra et al, 2015).

Phân tích số liệu của WHO về tỷ lệ tự sát của nhóm tuổi 15-19 trên toàn thế giới, từ 1990- 2009, cho thấy (Kain et al, 2016), lý do ở các nước phương Tây con số tự sát giảm có thể liên quan tới những cải thiện trong sức khoẻ nói chung; các quốc gia Nam Mỹ tăng thì khả năng là do khủng hoảng kinh tế và tác động của nó tới các gốc gác văn hoá đa dạng, một phần cũng bởi sự tiến bộ trong việc vào sổ bộ sinh, tử…

Hẳn là, ngay cả khi không đói ăn khát uống thì não bộ và hệ thần kinh của trẻ lớn lên trong thế giới nhiều ưu đãi và sung sướng về vật chất có thể phải chịu đựng loại căng thẳng ghê gớm chẳng kém: liên quan nhiều tới tâm lý hơn là áp lực vật chất, và chúng phải đương đầu với sự thất bại thay cho nỗi lo sợ suy kiệt cơ thể…

Với tư cách là những nhà quản lý và giáo viên, chúng ta không thể chấm dứt sự căng thẳng tinh thần trong đời sống học sinh- sinh viên, song chí ít chúng ta có thể tránh thêm stress vào nữa.

Cách hiệu dụng để thực thi điều này vốn là lời tuyên thệ dùng cho những ai hành nghề trợ giúp: Trước tiên Đừng Gây Hại (Do No Harm).

Vậy chúng ta hãy ưu tiên chăm lo bản thân chu đáo, chịu trách nhiệm về tâm trí mình để tự do cho phép chúng ta dùng tâm trí thật đích đáng, và sẵn sàng học hỏi nhiều hơn đặng cảm thấy phúc lành của trạng thái hiện diện, tình bằng hữu, khả năng thực hành, và sự giải thoát.

Xem phim Công Tử (The Big Lebowski), nghĩ về thiền và sự bà điên đáng đồng tiền

Tròn 20 năm một bộ phim (1998). Nội cái tên nguyên gốc lẫn khi Việt dịch ra thì đã thấy cà chớn và bụi bặm, thậm chí tuyền ăn chơi nhảy múa chẳng hề nghiêm trang, đứng đắn một tí nào rồi.

Gã cà lơ phất phơ í thật biết lười và tiêu tốn thời gian điệu nghệ quá chừng. Trên cái nền của sự nhầm nhọt tuổi tên và danh phận, giả định vụ án hình sự bắt cóc tống tiền, và nỗi niềm lo lắng cho sự an toàn của nữ con tin, đề nghị cảnh sát điều tra chiếc xe hơi hết xí quách cùng cái vali chứa khoản tiền triệu Mỹ kim bị đánh mất… bộ phim xen kẽ bằng cảnh chơi bóng gỗ (bowling) và nhân vật chính tắm trong bồn với rượu vang Nga trắng nhấm nháp cùng nhạc dịu êm, rồi bọn đột nhập tè trên tấm thảm vừa khít sàn nhà, thậm chí, đạo diễn còn dàn dựng cả cảnh trao đổi về mỹ thuật, đóng phim khiêu dâm, cuộn mình trong chăn sau khi làm tình để tăng khả năng đậu thai, nói ba hoa chích choè về người thân và công việc, trỏ sang cả việc đi phỏng vấn con nhà người ta vì nghi thằng bé lặng câm í cuỗm đống tiền lớn.

Bi hài, cảm xúc dâng cao, đạo đức thiết tha gìn giữ, hội chứng chiến tranh Vietnam, điện thoại reo và tin nhắn lại trên máy, tôn giáo, phân biệt chủng tộc, chết đột ngột, nghi lễ rải tro thi hài dọc bờ biển, TV đưa tin thời sự về Saddam Hussein, thất nghiệp, thi đấu thể thao…; đủ cả, lắm trò, nhiều tình tiết diễn biến hồi hộp song rốt cuộc thì vớ vẩn, tẻ nhạt, chẳng có gì ghê gớm xảy ra.

Những mường tượng, hình dung, dự tính, đoán định… đều trật lất.

Đúng là đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt.

Việc cần làm thì cần tập trung làm. Chơi bowling thì yếu tính là cứ ném bóng thôi. Luyện tập mãi, làm đi làm lại… Không chú trọng và nghĩ tới kết quả.

Không bỏ chạy, né tránh hoặc khao khát nơi chốn nào muốn tới. Mọi thứ đã có ở đây, ngay dưới đôi chân này. Tỉnh giác để ghi nhận những gì đang xảy ra, mà không đánh giá, cũng chẳng quá mê thích, ác cảm hay ghét bỏ chi.

Học hỏi và giác ngộ trên tiến trình của đời thường hàng ngày rối loạn, lung tung. Trân quý bất kỳ cuộc gặp gỡ và với con người trong hoàn cảnh nào. Chỉ làm những gì phải thế, và bắt đầu thư thái. Mắc kẹt nhiều và đòi hỏi thông tin vì e ngại hành động. Đầu tư thời gian và tâm trí, dấn thân, và mọi sự trở thành một phần của đời mình. Suy nghĩ cóc phải là vấn đề; tê cóng do mong đợi kết quả cụ thể và/ hoặc muốn mọi sự hoàn hảo.

Mọi người đều khao khát hạnh phúc. Thay vì khốn khổ với vô vàn đe doạ ảo ảnh chẳng hề xảy đến, hạnh phúc là những gì đang xảy ra. Đủ kiên trì và rộng lượng để khởi sự một ngày mới khác, buồn chán và nhạt nhẽo.

Thưởng thức âm nhạc khi tiếp nhận ỡm ờ

Chiều qua, tôi tranh thủ đến Nhà Hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh (Đà Nẵng) để nghe ban nhạc Ấn Độ mang tên Pranava Naadham biểu diễn tầm một tiếng đồng hồ theo phong cách hoà trộn Carnatic mà mấy ngày gần đây nhóm đã có mặt ở Vĩnh Phúc, Yên Bái

Vì Hội Hữu nghị thành phố mời nên trước khi phía bạn thể hiện thì chủ nhà mở màn bằng văn nghệ chào mừng, giao lưu. Đấy là tiết mục múa trên nền nhạc bài Việt Nam Quê Hương Tôi (Đỗ Nhuận), và ca khúc kèm múa phụ hoạ ‘Welcome to Danang’ (Nguyễn Phước Vũ Bảo); cả hai đều do vũ đoàn tên là Nhật Huy trình bày.

Tôi thấy mình lơ ngơ ở đó, giữa số khán giả không đông lắm và đa phần lớn tuổi, ngồi hờ hững kèm đôi mắt nhắm với âm nhạc, ca từ, và vũ điệu Danang- Vietnam. Giai điệu thoả mãn và những uốn éo đơn giản về mặt hình thể của các cô gái trẻ trung chẳng còn đủ sức lôi cuốn, hấp dẫn nữa; thậm chí, tôi đã nghe nhầm ‘Bà Nà sao lạnh ghê’ thành ‘Bà Nà sao lạ ghê’, cứ như thể vì điểm du lịch này vốn thiết kế kiểu cách, lai căng…

Thành thật, tôi chịu khó nghe và ưng ý hơn với phần trình diễn của nhóm nhạc tới từ xứ sở của tôn giáo và tâm linh huyền bí. Dù chưa chiếm trọn vẹn tâm tình mình, song họ đã cho tôi cơ hội hiểu thêm chút về sự khác biệt giữa âm nhạc và tính nhạc. Và thực tế, tôi kịp vừa nhìn ngó, lắng nghe vừa đặt cho bản thân những câu hỏi quen thuộc, rằng ngôn ngữ chúng ta lớn lên và âm nhạc đã nghe hồi nhỏ liệu ảnh hưởng như nào đến cách mình nghe nhạc lúc trưởng thành rồi nhỉ; liệu có sự khác biệt trong khả năng mình học hỏi rồi thưởng thức âm nhạc mình không quen thuộc lắm không? Và suy đoán câu trả lời đòi hỏi xem xét các nghiên cứu liên văn hoá.

Hẳn quan trọng là biết phân biệt khái niệm ‘âm nhạc’ và ‘tính nhạc’; với tính nhạc được hiểu hiểu là đặc điểm tự nhiên phát triển thoải mái dựa trên và bị hạn chế bởi hệ thống nhận thức, trong khi âm nhạc thì như cấu trúc xã hội và văn hoá nảy sinh từ tính nhạc đó. Các cơ chế nhận thức căn bản để ghi nhận, thực hiện và đánh giá âm nhạc là gì. Phân biệt ‘tính nhạc’ do vậy đâu có dễ.

Hầu hết mọi người yêu thích âm nhạc, chí ít vì nó giúp chúng ta biểu đạt cảm xúc đôi khi khó nói thành lời. Âm nhạc lôi cuốn, đánh bật, gây cảm hứng, cảm thấy nối kết; phản ánh chúng ta là ai và trải nghiệm của chúng ta về thế giới. Nhạc mang tính tâm linh, thần bí rất phong phú về biến tấu và da diết giai điệu như của đất nước Ấn Độ quả chạm vào lòng chúng ta theo cách thật đặc biệt.

Âm nhạc thì thiên về cảm xúc, đam mê, phi lý, và đậm chất nữ tính (C. Jung gọi là ‘anima’ ở đàn ông); và dĩ nhiên, tôi còn nhớ rằng chính S. Freud mang nỗi ám sợ âm nhạc như ông tự bạch từ 1914 (Oliver Sacks, 2008). Song chuyện này thì khá mệt mỏi khi đêm đã khuya…

Thường thôi

Tâm hay đầu trò gây rắc rối, trước khi cuộc đời tạo tác đủ thứ tào lao và phiền não khiến ta lên bờ xuống ruộng. Nên chi, khởi sự lại thái độ đúng đắn cần có: thường- thôi. Từ bỏ rồi sau đó duy trì trạng thái bình thường.

Dấu hiệu tuyệt diệu và cao cả nhất của tự do là nó cho người khả năng thả xuống và từ bỏ; hàm nghĩa đi kèm trách nhiệm cùng sức chịu đựng khổ đau nếu theo đuổi những gì mình đã xác quyết, lựa chọn. Mí nữa, ấy cũng là dịp tung tẩy tạo tác nên bao mở rộng, thu hẹp, giả định và thử nghiệm đáng giá khi tháng năm dần trôi và qua nhanh.

Hình dung lộ trình đặng bước vào nơi chốn không sinh không diệt, mọi hiện tượng biến chuyển liên lỉ chẳngngừng nghỉ hoặc trạng thái không dính mắc đòi buộc mình học hỏi về rộng lượng; thiên hạ thay vì rên rỉ về quá khứ thì nên rỉ rên về sự càm ràm bất tận về dĩ vãng đã qua. Vì nếu không giành lấy thời gian và tiến hành điều cần làm ở- đây- và- ngay- bây- giờ thì e mãi mãi chẳng bao giờ thực hiện nổi hoặc ê chề lỡ hẹn, nuối tiếc ngập tràn.

Từ việc thải loại, tống khứ các đồ vật cá nhân vụn vặt, một hôm bừng tỉnh về sự từ bỏ sâu xa ‘tam độc’ khủng khiếp là tham lam (gắn dính), ghét bỏ (ác cảm), và sân si (ngu dốt). Đáng lưu ý, coi chừng mất các thứ gắn bó lâu nay thậm chí có thể khiến mình vụt trở thành ác cảm.

Dù no đói, lạnh rét, nắng mưa, thiếu đủ thì đừng bao giờ quên rằng ta ở đây để nhìn thấy mọi thứ rõ ràng và sáng tỏ. Muốn thế, phải tĩnh lặng và hài hòa.. Một cái tâm bình thường để thấu hiểu thực tế đời sống. Hết sức cảnh giác với khao khát trở thành và ham muốn những gì phi thường, thi thoảng bị thôi thúc bỏ chạy, vượt thoát, sa ngã hoặc mò mẫm; với nỗ lực trông chừng, cần gắng đưa tâm trở lại. Đừng cực đoan, thái quá. Khám phá tính vô thường, khổ, vô ngã; và không theo đuổi hoặc mong muốn những gì bộc lộ tính vô thường và đem lại nỗi khổ niềm đau.

Tập trung quan sát mọi thứ đến và đi. Thư thái, bình thản, tinh tấn, và sáng tạo.

Nhích lần lữa làm sao cho vừa người thích hoàn hảo

Làm gì khi mình thích hoàn hảo và đang rơi vào thói quen xấu của sự lần lữa?

Tự nhận mình thuộc dạng người tôn thờ trạng thái hoàn hảo kỳ cục, vì thực sự mình có nhiều thói xấu như ăn nhiều ghê gớm và hay lột da khơi khơi, rồi bỏ bê chăm sóc bản thân do thiếu ngủ, ít tập thể dục/ tắm táp và cũng không dùng thuốc bổ (khiến tóc xam xám sớm). Cách người này xử lý: thi thoảng thức khuya để lên danh sách việc cần làm nhằm thay đổi bản thân, quan sát cách điều chỉnh vấn đề, và đưa ra hàng triệu lời hứa chẳng giữ được. Hôm sau rối tung phờ phạc thì từ bỏ dự tính ngay và quay về các thói quen xấu.  Có nhiều kiểu suy nghĩ ám ảnh song lại không theo đuổi tới cùng, rốt cục cảm thấy chính mình tồi tệ: một số suy nghĩ ấy đã nảy sinh hồi mới học lớp 8 hoặc sớm hơn. Giờ đang là sinh viên đại học năm thứ hai và thấy chán ốm bản thân; mất tự tin và ngại quan hệ với bạn bè…

Thực tế, trong nỗ lực làm người hoàn hảo thì lần lữa, trì hoãn là công cụ chúng ta dùng để ngăn ngừa nỗi lo lắng cứ chực ăn tươi nuốt sống mình ngay và luôn. Ham muốn thành người hoàn hảo có thể tăng thêm stress và lo âu vào bất kỳ việc bản thân đang muốn áp dụng. Tính hoàn hảo đẩy ta làm nhiều việc dễ tạo cảm giác ngập lụt, to lớn vô cùng và tiêu tốn thời gian khủng khiếp. Thực hiện điều hoàn hảo đặt buộc ta bổ sung nỗ lực ngoài sức tưởng tượng nhằm đảm bảo nó ngon lành cành đào và không mắc sai sót nào; làm đi thử lại cho đến ổn thỏa mới thôi. Chưa nói, các tiêu chuẩn đặt ra cho bản thân phù hợp với trạng thái hoàn hảo khiến các mục tiêu khó bề chạm thấu. Càng cứng nhắc về mức độ hoàn hảo, càng không chấp nhận do chẳng đạt được các tiêu chuẩn cao đến thế. Và câu chuyện dần chuyển sang phần tồi tệ: lo lắng và sợ hãi thất bại tạo cho người mang tính hoàn hảo đôi lúc thấy khá bị hăm dọa. Chính khi đó, sự lần lữa bước vào. Là cách tránh né và phòng thủ kín đáo, lần lữa minh họa cho việc chúng ta gỡ bỏ xuống gánh nặng, khỏi đương đầu với kỳ vọng cùng tiêu chuẩn cao vời, khiến mình không phải đối diện rồi cần thiết giải quyết chi hết.

Hầu hết người thích hoàn hảo cũng có thói tật mê chỉ trích bản thân. Nên khi chẳng đáp ứng với các mục tiêu và tiêu chuẩn đến thế, họ thường đổ tội cho bản thân, căm ghét chính mình, và sợ kẻ khác thất vọng. Nghĩ về sự trì hoãn như tấm chắn che đậy khuất mắt mọi sự sa lầy về mặt cảm xúc này. Tuy nhiên, trừ khi mình có kỹ năng hiếm hoi để đợi tới phút cuối trông thấy rõ ràng mọi việc hoàn thành tốt nên rốt cục lần lữa thành thứ đáng nguyền rủa, đồ của nợ tởm ghét. Mọi gắng sức né thoát các cảm xúc thông qua sự lần lữa chỉ tổ làm họ bắt gặp lại chúng về sau khi họ không thỏa mãn hoặc quá hạn cuối cùng đặt ra. Mục tiêu của sự lần lữa là né tránh các cảm xúc mà rốt cục lại gặp đúng các cảm xúc muốn tránh né ấy.

Cách xử lý tốt hơn các cảm xúc này là hiểu thấu mục tiêu mình muốn gì khi nảy sinh ra trò lần lữa: điều khiển nỗi lo niềm sợ. Khởi sự biết rằng lần lữa không phải là cách tốt nhất đặng kiểm soát lo lắng. Bắt đầu hiểu rõ nó rồi đây sẽ chỉ mang mình chộ mặt lần nữa các cảm xúc bản thân từng cố hết sức tránh mà thôi. Một khi tin rằng lần lữa cóc được việc như mình thiết tưởng, ta có thể cởi mở kiếm tìm cách khác xử lý nỗi niềm âu lo. Ăn, ngủ, chơi đùa. Bẻ nhỏ một nhiệm vụ lớn thành các mẩu nhỏ hơn. Nghỉ ngơi, vâng, nghỉ ngơi. Đúng thế, đề nghị mình dừng những gì đang tiến hành và chầm chậm lại… Đây là sự trì hoãn tốt lành. Cho phép mình dành thời gian hồi phục sức khỏe và tránh kiệt quệ do cố thúc đẩy bản thân dấn bước.

Tiếp theo, bắt đầu khám phá các động cơ ẩn giấu bên dưới tính hoàn hảo; thói tật cầu toàn cứ dần trở nên gây hại vì mình sợ tạo ra sai lầm, sợ thất bại, gắng buộc sống theo kỳ vọng của những kẻ khác, hoặc do tự dằn vặt bản thân kéo dài quá lâu. Dĩ nhiên, cũng cần biết rằng cầu toàn không phải là cách hữu hiệu gì để xử lý các trục trặc dây dưa vừa nêu. Thách thức thói lần lữa sẽ đi kèm với việc kiểm tra xem xem các tiêu chuẩn đề ra có đạt được không và nhìn nhận chúng đúng là không thể chạm tới thật. Chúng ta cũng cần cảm thấy dần thoải mái bộc lộ các điểm yếu kém, học cách đón chào vui vẻ những lỗi lầm lộ diện, và thay đổi lối suy nghĩ đen trắng rạch ròi quá mức vốn hay cặp đôi với tính cầu toàn và thói tật thích hoàn hảo.

Thái độ bảo thủ chính trị duy trì như một dạng điên nhẹ?

Đội ngũ những người quản lý các lĩnh vực kinh tế- xã hội ở Việt Nam tỏ ra chê bai trình độ dân trí nước nhà ngày càng đông đảo; nhiều tuyên bố lạ lùng và lắm phát ngôn trên nghị trường gây sốc khủng khiếp đối với công luận, không ít tuổi tên chính trị gia bị gắn với tục danh mang tính dè bỉu lẫn khinh bỉ; vô số hành động xử lý, ra quyết định chẳng hề giống ai, xa lạ quá chừng thế giới văn minh, v.v…

Chủ đề chính trị và bệnh tâm thần có thể được minh họa lịch sử từ cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789, bởi vì nó làm cho tinh thần quốc gia thêm cường tráng, song với nhiều người tham gia thì niềm vui trở thành cơn mê sảng (delirium).

Theo nghiên cứu, chủ nghĩa bảo thủ là một dạng điên khùng (insanity) nhẹ. Một phân tích gộp chọn từ 88 mẫu ở 12 quốc gia với 22.818 đối tượng đã vén lộ “nhiều biến số tâm lý dự báo chủ nghĩa bảo thủ về chính trị”. Các biến gồm: sợ chết, hệ thống bất ổn, giáo điều về sự nhập nhằng, tâm trí nhỏ hẹp, thiếu khoan dung về trạng thái không chắc chắn, nhu cầu cao về tính thứ bậc (bộc lộ nhận thức), cấu trúc, phức hợp thống nhất thấp, lo hãi bị đe dọa và mất mát, và kém tự tin. Nhóm tác giả kết luận khá chua chát rằng “ý thức hệ căn cốt của chủ nghĩa bảo thủ nhấn mạnh việc kháng cự với thay đổi và biện hộ cho sự bất bình đẳng”.

Không những chẳng hay ho gì lắm, người ta đang nói tới ai đó đầy sợ hãi, với cảm quan cái tôi nghèo nàn, và vắng thiếu tinh thần linh hoạt. Khoan dung với mơ hồ, nhập nhằng là điểm tâm lý đặc biệt sáng giá ở người trưởng thành vì thế giới nào chỉ có hai màu đen, trắng. Theo nghiên cứu trên, người bảo thủ sở hữu cơ bản phẩm tính ngược lại: không khoan dung với mơ hồ và không có khả năng giải quyết điều phức tạp.

Các nghiên cứu khác còn khẳng định, khi vắng bóng nỗ lực suy tư đầy cân nhắc thì ý thức hệ bảo thủ càng tăng lên; năng lực nhận thức và chủ nghĩa bảo thủ tương quan nghịch. Nghĩa là, nỗ lực tinh thần sút giảm thì làm tăng các niềm tin bảo thủ; tức các thuộc tính trách nhiệm cá nhân (đối lập việc nhận ra ảnh hưởng của các yếu tố tình huống), chấp nhận thang bậc và khung tham chiếu giữ nguyên trạng có thể được xem là dấu ấn của niềm tin bảo thủ.

Các phát hiện của chúng tôi khẳng định những lối tư duy bảo thủ là căn bản, bình thường và khá tự nhiên, nhóm nghiên cứu khẳng định. Các yếu tố động cơ thúc đẩy là những xác quyết chủ yếu của ý thức hệ, trợ giúp hoặc chỉnh sửa các đáp ứng ban đầu phụ thuộc vao mục tiêu, niềm tin, và giá trị của người ta…

Dù tiếp cận từ các góc độ xã hội học, phương pháp luận, thành phần cấu trúc và triết lý thì bảo thủ chính trị vẫn còn đáng xem xét thấu đáo, chẳng hạn cụ thể về khía cạnh chủ động tạo áp lực xã hội, toàn trị, v.v…

Hiểu biết về nỗi đớn đau rã rời và ứ tràn cảm xúc

Đôi khi, người ta cảm thấy không còn mấy chút hào hứng với việc nỗ lực học hỏi, và họ cũng cảm giác trống rỗng tương tự trong các cuộc thảo luận, chuyện trò liên quan đến tình cảm. Để giải quyết nỗi niềm đớn đau ẩn hiện, họ có thể sử dụng chiến lược cách ly hoặc ngủ rũ về mặt cảm xúc.

Có người thì thường xuyên cảm thấy nhu cầu thôi thúc bản thân về nỗi đớn đau này bằng cách tưởng tượng mình trong một tình huống khốn cùng (ví dụ, một cuộc chia tay buốt xé, lời tâm sự thốt lên trước lúc chết, v.v…). Khó ‘thỏa mãn’ bình thường cho đến khi khóc lóc chẳng kiểm soát được, với cơn nhói đau nơi ngực rồi ngủ thiếp đi; chỉ thấy đỡ hơn hẳn sau khi thức dậy…

Khá nhiều lý thuyết tâm lý học liên quan với vấn đề nêu trên. Nhà trị liệu theo cách tiếp cận phân tâm hoặc động năng tâm lý sẽ lý thuyết hóa rằng các xung đột nội tâm lý giải nhu cầu trải nghiệm nỗi đau cảm xúc. Từ viễn tượng tâm lý ấy, khi nhận ra chính mình dấn thân vào các hành vi mang tính phá hoại bản ngã và cơ chừng vô mục đích nghĩa là chúng ta đang muốn dứt khỏi ký ức hoặc một trạng thái cảm xúc.

Nói khác, ước ao cảm thấy đau đớn cảm xúc có thể phản ánh vô thức mình nỗ lực tạo nên sự ‘chuộc tội’ về mặt tâm lý cho các hành động, xung năng hoặc tình cảm vốn khó khăn để thấy ra hoặc chấp nhận trên bình diện ý thức. Cơ chế phòng vệ này gọi là ‘phá hủy, tháo khoán’ (undoing) hướng tới hành động trong những cách đối lập với hướng mình cảm nhận ở bình diện vô thức thẳm sâu. Có lẽ phần nào cảm thấy tội lỗi, tỷ như việc muốn sống đời vui vẻ, đến độ mình thực ‘hủy xóa’ ước ao hạnh phúc này thông qua chuyện thay thế bằng các trạng thái cảm xúc khổ sở. Nghĩa là, mình dễ tự trừng phạt chính mình một cách vô thức nhằm ngăn ngừa các cảm xúc hạnh phúc ‘không thể chấp nhận nổi’ khởi lên bề mặt.

Nhà trị liệu dùng khung tham chiếu nhận thức- hành vi sẽ giải thích não trạng và các hành động khác hẳn. Lối tiếp cận này cho rằng các nguyên nhân gốc rễ của nhiều rối loạn hành vi và cảm xúc vốn bắt nguồn từ niềm tin về bản thân chúng ta, về thế giới, và về tương lai. Bên dưới hành vi, chẳng hạn, có thể là niềm tin căn cốt ‘Tôi tồi tệ và tôi đáng bị trừng phạt’.

Một nhà trị liệu nhận thức sẽ trợ giúp trong việc định dạng, và thay đổi hệ thống niềm tin góp phần hình thành nhu cầu đớn đau về mặt cảm xúc. Nhà trị liệu có thể giúp thân chủ nhận ra các nỗi sợ liên quan tới hành vi hủy hoại bản thân. Nếu các niềm tin nằm bên dưới là nguyên nhân khiến mình ngại ngần rời bỏ niềm vui và hạnh phúc chẳng hạn, nhà trị liệu sẽ giúp khớp khít với các nỗi sợ, khám phá nguồn gốc của chúng, rồi tái cấu trúc những niềm tin và suy tư liên quan đến nỗi sợ làm mình bị tắc ứ.

Một nhà trị liệu cần làm việc sát hợp với thân chủ nhằm xác quyết các gốc rễ trong nhu cầu đớn đau về mặt cảm xúc. Trước hết, nhà trị liệu sẽ muốn hiểu điều gì đem lại khoái sướng nhờ lui tới với các trạng thái đớn đau về mặt cảm xúc. Liệu tự thân trạng thái đớn đau cảm xúc đem lại niềm vui hoặc đúng ra là sự phóng thích về mặt tâm lý nhờ khóc lóc? Cảm thấy lo lắng khi tiếp nhận tâm trạng đớn đau về mặt cảm xúc, hay ngược hẳn lại, cảm thấy lo lắng nếu mình bị ngăn chặn không tiếp cận được các tâm trạng nêu trên? Một nhà trị liệu từng trải chắc sẽ dành thời gian đánh giá thân chủ và tình huống của thân chủ nhằm tích lũy thêm hiểu biết sáng rõ khía cạnh tâm lý của thân chủ. Nhờ làm thế, nhà trị liệu sẽ thêm khả năng trị liệu thân chủ và vấn đề như thân chủ mô tả. Tìm kiếm nhà trị liệu phù hợp và thoải mái giúp mình cảm thấy nhiều kết nối hơn về mặt cảm xúc và phóng thích tối đa các gánh nặng tâm lý.

Lại có thân chủ lớn lên với một người cha nghiện rượu, tuy không lạm dụng thể lý song lại hành hạ bằng lời nói; ngay từ bé, thân chủ đã ước mình bị hiếp: không phải để vui sướng mà có lẽ vì quá buồn đau. Quen nghĩ tới các kịch bản về một đời sống gia đình khốn khổ hơn, vì thân chủ cảm thấy mình không đủ xấu xa, và muốn một điều gì đó đáng để rơi lệ…

Thường chúng ta khá ngờ vực bất kỳ ai có ‘nhu cầu’ đau đớn về mặt cảm xúc, và với nhiều người, đó là nơi chốn thoải mái. Thiên hạ hay kiếm tìm các tình huống tương tự đời sống của họ, bất luận tính chất lành mạnh hay không. Điều này có vẻ là những gì đang diễn ra với thân chủ nhắc trên; nghe như người ấy đang cưỡi trên một cơn bão cảm xúc, hoặc có thể nghĩ, đang kiếm tìm các hỗn độn cảm xúc. Hỗn độn cảm xúc xảy đến khi có một rối loạn toàn diện và rối rắm trong mớ cảm xúc ứ tràn. Người trải nghiệm điều này không chắc về cách mình cảm nhận, khả năng vì có các xung đột cảm xúc và sự ghi nhận về việc mất kiểm soát. Với đống cảm xúc cuộn xoáy bao quanh, cơ thể họ dễ rơi vào trạng thái phấn khích cao độ về mặt sinh lý. Sau khi quen sống với trạng thái hỗn độn cảm xúc thế, nhiều người chạm tới điểm cảm thấy tốt lành. Họ khởi sự vui thú với kịch tính và dần tin rằng sống trong trạng thái bình lặng là quá kỳ cục và chán chường. Do vậy, bất chấp những điều tốt lành trong đời, họ kiếm tìm sự chao đảo để mong quay về trạng thái thoải mái.

Có rất nhiều cách dẫn tới việc người ta chao đảo về mặt cảm xúc, và chuyện sống với kẻ nghiện ngập, nhất là đối tượng lạm dụng, khá sát gần đỉnh điểm đang bàn. Nghiện rượu là thứ tật kinh khiếp do lắm lý do, chứ không đơn giản là những phá hoại và tổn thương nó gây ra cho các thành viên trong gia đình.

Trẻ em sống trạng thái căng thẳng quá mức đến độ chúng có thể cảm nhận nguy hiểm và chúng lựa chọn hoặc trốn tránh hoặc đánh lạc hướng. Trẻ thường xuyên cảm thấy tức giận với bố mẹ nghiện ngập của mình song bởi vì bộc lộ sự tức giận thì không an toàn nên chúng buộc phải che giấu các cảm xúc bản thân và làm bất cứ điều gì cần thiết để sống còn. Chưa nói, trong khi con cái các bố mẹ nghiện ngập thường yêu quý bố mẹ mình, chúng không biết làm cách nào để cân bằng cảm xúc đó với sự tức giận, đau buồn và sợ hãi. Kết cục, có nhiều cảm xúc xung đột, chúng quen sống trong trạng thái sinh lý tăng cao, và ít khả năng kiểm soát; nói ngắn, chúng sống trong sự chao đảo về mặt cảm xúc.

Khi thân chủ tự hỏi đang diễn ra điều gì sai trái, nhà trị liệu đoán rằng thân chủ muốn thay đổi. Điều này có thể thực hiện tốt, nhất là nếu mình có sự trợ giúp của người làm chuyên môn được đào tạo bài bản về nghiện ngập và các hệ thống gia đình. Nhà trị liệu hầu như sẽ giúp thân chủ học hỏi cách điều chỉnh tốt hơn các cảm xúc bản thân, đặt để các ranh giới liên nhân cách, và thiết lập cảm nhận kiểm soát đời mình. Khi lốc xoáy của cơn bão cảm xúc ngừng bặt, thân chủ có thể khám phá ra rằng trạng thái ‘buồn chán’ không nhất thiết là phương thức chung sống tồi tệ.

Chối bỏ như một cơ chế phòng vệ

Với người nhiễu tâm (neurotics), chối bỏ (denial) là cơ chế phòng vệ vô thức bảo bọc họ chống lại trải nghiệm đớn đau không chịu đựng nổi. Với kẻ bị loạn tâm (disorderded), những gì chúng ta quen ghi nhận như các cơ chế phòng vệ vô thức (chối bỏ chẳng hạn) thường là các sách lược có tính toán nhằm khôn khéo tạo ấn tượng, diễn trò, và lảnh tránh trách nhiệm.

Dạng nhiễu tâm dùng nhiều thứ cơ chế nội tâm đặng chống giữ, che chắn trước trải nghiệm nỗi đau cảm xúc và làm khuây khỏa lo âu. Hầu hết mọi người nghe nói về các ‘cơ chế phòng vệ’ cơ bản này. Đấy là các công cụ *vô thức*, dù quyền năng song tỏ ra không thích đáng hoặc không luôn luôn cực kỳ lành mạnh tựa các cách thức giảm bớt nỗi đau cảm xúc. Các ‘triệu chứng” mà cá nhân kẻ loạn tâm khiến nhà trị liệu chú ý là kết quả lo âu sót lại hoặc nỗi đau cảm xúc vẫn còn đó sau việc dùng chẳng mấy hiệu quả một hoặc nhiều các ‘cơ chế phòng vệ’ đặc thù. Vào những dịp khác, một người dễ nhờ cậy trợ giúp bởi vì ‘các phòng vệ’ dần tăng thêm sự thiếu thích ứng hoặc bắt đầu bẻ gãy, để mặc nỗi đau cảm xúc ẩn bên dưới chúng nổi lên bề mặt.

Các tính cách loạn tâm dấn thân vào một số hành vi quá ‘tự động’ đến độ gợi ý nghĩ thực hiện chúng hoàn toàn vô thức. Thoạt nhìn, các hành vi này giống với các cơ chế phòng vệ và dễ diễn giải thành như thế, nhất là bởi các cá nhân bị ngâm quá mức trong các hệ hình truyền thống. Tuy vậy, xem xét kỹ càng hơn, các hành vi này chính xác ra phải được gọi tên là những sách lược diễn trò, mánh lới gây ấn tượng và chống kháng trách nhiệm.

Lấy ví dụ về một người phụ nữ kết hôn và sống cùng chồng 40 năm nay, và bà vừa đưa ông vào bệnh viện vì trong khi họ làm việc ngoài vườn thì ông ấy chợt nói năng khó khăn rồi trông có vẻ kiệt quệ. Các bác sĩ chẩn đoán chồng bà bị đột quỵ, giờ não đã chết và sẽ không hồi phục được. Dẫu thế, mỗi ngày bà vẫn vào bên cạnh giường ông, nắm tay và trò chuyện. Các điều dưỡng bảo ông không thể nghe thấy song bà vẫn nói với ông hàng ngày. Các bác sĩ bảo ông không hồi phục được song bà thì tự nhủ với bản thân rằng ‘tôi biết ông ấy sẽ qua khỏi, ông ấy là một người đàn ông mạnh mẽ’. Người phụ nữ này đang ở trong một trạng thái tâm lý lạ lùng: trạng thái chối bỏ. Bà rất khó khăn để tin những gì diễn ra. Mới đây thôi, bà còn ở ngoài vườn cùng ông, thích thú bên nhau làm công việc ưa thích. Trước hôm xảy đến sự cố một ngày, họ cùng nhau đến thăm gia đình một người bạn. Ông ấy cơ chừng toát lên nét vẻ thật hạnh phúc và khỏe mạnh. Ông ấy không đau ốm gì lắm khi bà đưa vào bệnh viện. Thế mà, trong chớp mắt thôi, họ đang nói rằng ông sắp chết. Nỗi đớn đau thấm đẫm cảm xúc này bà chưa từng phải chịu đựng. Bà không sẵn sàng chấp nhận việc người đàn ông đầu ấp tay gối suốt 40 năm qua sẽ không về cùng nhà với bà nữa. Bà không chuẩn bị tinh thần cho việc sống cuộc đời vắng bóng hình ông. Vì vậy, tâm trí vô thức cung cấp một phòng vệ hiệu quả (hầu như tạm thời) để bà chống lại nỗi đớn đau. Rồi dần mai một, khi bà đủ khả năng chấp nhận thực tế phiền não, sự chối bỏ của bà bị bẻ gãy, lúc ấy, nỗi đau bấy lâu tích chứa phun trào và bà sẽ xót buốt cõi lòng ghê gớm.

Một ví dụ khác về cái gọi là ‘chối bỏ’. Nam (tên giả), quen bắt nạt trên lớp, đi dạo với một trong các bạn học không nghi ngờ gì rồi tiến hành giật tung cặp sách bạn đang cầm, đá tung tóe sách vở khắp nơi dưới sàn nhà. Đúng lúc đó, giám thị hành lang bắt gặp nên nghiêm nghị hét lên “Nam!”. Cậu bé mở rộng vòng tay, làm cử chỉ ngạc nhiên và biểu tỏ vẻ mặt ngây thơ vô tội “Cô gọi gì em ạ?”. Liệu Nam đang sống một tâm trạng khác? Trạng thái thay thế này có thể giúp cậu chịu đựng nỗi đau cảm xúc? Nam không thực sự hiểu chuyện gì vừa diễn ra hay cậu ta nghĩ rằng mình nào có làm điều gì đâu cơ chứ? Cậu ta quá héo hon vì tội lỗi và/ hoặc tủi hổ vì điều mình gây ra đến độ cậu đơn giản không thể tin nổi mình thực sự đã làm chuyện khủng khiếp? Khả năng câu trả lời là Không. Nam chắc chắn quan tâm nhiều tới chuyện cậu ta có thể bị trừng phạt, kèm với lời thông báo tới bố mẹ, và thậm chí có thể bị đình chỉ học tập. Nên cậu chuẩn bị thử một chiến lược dài hơi. Cậu sẽ làm hết sức để vị nữ giám thị tin rằng không thực sự thấy những gì đôi mắt mình đã ghi nhận. Sảnh đường đông nghẹt. Có thể là ai đó khác chăng. Có thể hành động ấy chỉ là ‘tình cờ’. Nếu cậu ta thể hiện vừa đủ vẻ ngạc nhiên, ngây thơ, và sự phẫn nộ chính đáng thì biết đâu chừng, đúng là biết đâu đấy, cô giáo sẽ bắt đầu tự nghi ngờ bản thân. Cậu bé hy vọng, không giống mình, cô giáo có thể là dạng nhiễu tâm (chẳng hạn, mang lương tâm thái quá và cảm giác cực đoan về tội lỗi hoặc tủi hổ) để nghĩ rằng cô giáo có thể đánh giá nhầm tình huống, có thể cô giáo thậm chí tự mắng mỏ bản thân vì vội vàng quy kết hoặc dễ góp phần gây nên một nỗi đau cảm xúc. Sách lược này từng được việc rồi, có thể nó sẽ lại tiếp tục được việc lần nữa.

Ví dụ vừa nêu dựa vào một trường hợp có thật. Đáng lưu ý, khi ‘Nam’ nhận ra cậu ta không thể diễn trò với giám thị hành lang, cậu bất đắc dĩ ngừng việc chối bỏ và nói rằng, ‘Vâng, có thể em làm thế thật song cô giáo giám thị đã tin chắc vậy vì cô ấy luôn nói xấu về em’. Nam đang dùng một số chiêu thức khác để diễn tiếp trò sắp đặt, dẫn dắt và tạo mánh khóe gây ấn tượng; điều quan trọng nhất cần nhận ra là không giống với những gì xảy ra trong trường hợp chối bỏ tâm lý đích thực như một cơ chế phòng vệ, vụ của Nam không cho thấy nỗi thống khổ được biểu lộ và thể hiện buồn thương khi sự chối bỏ kết thúc. Lý do đơn giản là tự bản thân Nam chưa bao giờ ‘chối bỏ’ (trạng thái tâm lý). Cậu ta chỉ đang nói dối thôi, và dần cậu ta ngừng việc nói dối vì chuyện đó chẳng dẫn cậu ta đến đâu cả. Cậu ta chuyển từ việc nói dối sang xin lỗi và hành hạ nạn nhân cũng là các chiêu trò dẫn dắt và mánh khóe gây ấn tượng hiệu quả.

Không thể nhấn mạnh đủ rằng ‘chối bỏ’ của người phụ nữ lớn tuổi bất hạnh thì không giống với sự ‘chối bỏ’ của cậu bé bắt nạt bạn học tên Nam. Một là cơ chế phòng vệ, một thuộc chiêu trò dẫn dắt và lảng tránh trách nhiệm; một là cơ chế vô thức bảo bọc người ta khỏi nỗi đau khổ cảm xúc sâu thẳm, một là lời nói dối được tính toán và cân nhắc rõ ràng.

Tuy thế, thực tế nhiều vị dùng cùng thuật ngữ để mô tả các hành vi rất khác hẳn nhau này. Ít nhiều cảm thấy khó chịu khi ngay cả người hành nghề chăm sóc sức khỏe còn xem là chỉ có mỗi một dạng chối bỏ và họ thường giả định rằng hễ cứ nhắc tới chối bỏ thì bó nó vào mớ cơ chế phòng vệ phức tạp. Nghe họ nói về thân chủ cứ ngoan cố ‘phòng vệ’ thuộc hành vi có vấn đề này khác khi thực chất, họ đang mô tả thân chủ còn tiếp tục ‘nói dối và trình diễn’ như phần của trò chơi bày đặt gây ấn tượng và lảng tránh trách nhiệm. Lần nữa, ‘chối bỏ’ e là một trong các thuật ngữ sức khỏe tâm thần dễ bị dùng sai.