Loạn thần và Phân ly: ‘tình trong như đã’…

Trong tâm tưởng dân chúng nói chung, loạn thần cơ chừng đã là cái tên gây nhiều hoảng sợ, cặp đôi với phân ly nữa thì quá dễ làm dấy lên những nghi ngại vô cùng kinh hoàng.

Cả thập niên trôi qua rồi mà vấn đề cần sa gây loạn thần vẫn chưa thể đưa ra lời cuối dứt khoát, đủ thấy câu chuyện dây dưa khủng khiếp với nhiều hệ luỵ khó lường. Thực tiễn lâm sàng cũng ghi nhận việc người ta mắc loạn thần và thái độ kháng cự dùng thuốc. Tiếp cận loạn thần như kết quả của sang chấn và các hiện tượng tinh thần thì đối lập với chuyện chú mục vào bộ não, mô hình thực nghiệm và y khoa của căn bệnh tâm thần; và nếu thế, liên quan tới các kỹ năng học hỏi. Trải nghiệm tâm thần và phân ly trong trạng thái loạn thần cũng sẽ được trình bày ở đây.

Kỹ năng học hỏi và loạn thần

Những khác biệt rõ rệt giữa trải nghiệm ảo giác và hoang tưởng giúp giải thích tại sao các đặc trưng này có khả năng cải thiện nhờ thuốc. Lưu ý rằng, ảo giác và các trục trặc cảm xúc như hoang tưởng là các trải nghiệm nội tạng, và vì thế, chúng có thể liên quan nhiều tới hoá chất bất thường ở não mà từ đó loạn thần xuất hiện. Tuy vậy, các vấn đề nhận thức và xã hội thì lại phụ thuộc vào trải nghiệm trong các thế giới tinh thần và vật chất.

Khi trao đổi nhận thức ở một người mắc tâm thần phân liệt (TTPL), khó khăn trong tư duy của họ là hiển nhiên. Các liên kết lỏng lẻo, từ rối rắm, và câu cú nghèo nàn là vài ví dụ chứng tỏ những khó khăn nhận thức ở những người loạn thần. Một thực tế hiếm khi được xem xét là những người mắc TTPL đối phó với trải nghiệm chưa hề từng được khám phá, nó mới tinh, và không hề dễ dàng để sự nỗ lực của người mắc TTPL hiểu về mặt nhận thức sự thao túng của trải nghiệm loạn thần. Tại sao thiên hạ mong đợi người mắc TTPL có khả năng nghĩ đến những trải nghiệm không phổ biến và không theo chuẩn tắc nhỉ. Không có cơ sở thực tế, không có truyền thống tư duy đích thực đặng cho phép người mắc TTPL suy nghĩ thật hiệu quả về loạn thần.

Các yếu kém rõ ràng về mặt xã hội ở người mắc TTPL phụ thuộc vào trải nghiệm trong thế giới vật chất. Do xu hướng mắc loạn thần xuất hiện ở tuổi vị thành niên và mới lớn, có những hoạt động rất thiết yếu từ khía cạnh phát triển bị buộc phải thoả hiệp do sự chín chắn về mặt xã hội. Dùng cách diễn giải của Erikson về các giai đoạn phát triển xã hội, khi TTPL xuất hiện, cá nhân ở giai đoạn ‘bản sắc đối chọi với sự rối rắm về vai trò’, hoặc giai đoạn ‘gần gũi đương đầu với cô lập’. Loạn thần dẫn tới các trục trặc trong sự hình thành nhân cách và tha hoá liên nhân. Điều này e chừng là do trải nghiệm không chuẩn tắc và trải nghiệm kiệt quệ về mặt xã hội.

Cơ bản, các kỹ năng xã hội và nhận thức yếu kém ở người mắc TTPL bị ảnh hưởng bởi trải nghiệm không chuẩn tắc, và các ảo giác lẫn hoang tưởng gây hiệu ứng nhân quả tới sự nhận thức lệch lạc và thiếu hụt kỹ năng xã hội. Nếu ảo giác và hoang tưởng có thể giảm bớt ngay từ sớm trên tiến trình mắc TTPL, có thể trải nghiệm không chuẩn tắc này sẽ không gây rắc rối cho các kỹ năng xã hội và nhận thức. Rõ là, hoang tưởng và ảo giác liên quan nhân quả tới kỹ năng nhận thức và xã hội. Bất luận thế nào, hoạt động nhận thức yếu kém và kỹ năng xã hội hạn chế phụ thuộc vào trải nghiệm không chuẩn tắc trong thế giới tinh thần.

Nói gọn thì các kỹ năng xã hội và nhận thức kém cỏi là kết quả của khả năng học hỏi bị giảm sút. Tuy thế, các kỹ năng nhận thức có thể được phản ánh ở siêu nhận thức (meta-cognition) vì nó liên quan tới loạn thần. Nâng cao nhận thức về nhận thức, hoặc nhận thức về loạn thần có thể cho phép người mắc TTPL tách rời khỏi trải nghiệm loạn thần của vị ấy. Điều này có thể chứng thực là trị liệu. Tương tự, hướng dẫn các kỹ năng xã hội có thể cũng đem tới lợi lạc trị liệu. Do những thiếu hụt trong học hỏi, các kỹ năng nhận thức và xã hội kém cỏi có năng lực đáp ứng với việc học, và đây là tương quan dương tính với thực tế là các kỹ năng xã hội và nhận thức được hình thành. (còn tiếp)

Thuốc chống trầm cảm: công dụng vạn năng, cân nhắc duy trì, hay không dùng chi hết?

Vậy là sau quãng thời gian dài lu bu và lần lữa, câu chuyện trầm cảm, chí ít việc dùng thuốc, cuối cùng đã có cơ hội bàn thảo tiếp tục.

Thực tế, với mạng lưới điểm toàn cầu, lọ mọ tìm hiểu về công năng của thuốc không khó; thậm chí là khá dễ dàng để ai đó dần cảm thấy tự tin về vốn kiến thức tích luỹ được. Dĩ nhiên, người ta nên quan tâm nghiêm túc hơn về độ an toàn nếu đã dùng dai dẳng, dù không ít bác sĩ tâm thần cùng bệnh nhân nhận thấy lợi lạc giải cứu của thuốc; chẳng hạn, FDA khuyến cáo nguy cơ tăng ý nghĩ cùng hành vi tự sát ở trẻ em, vị thành niên và người dưới 25 tuổi. Bài báo hồi 11.9.2017 trên trang điện tử NYT cho biết, 1/10 người Mỹ từ 12 tuổi trở lên và 1/7 người ngoài 40 được chỉ định thuốc chống trầm cảm, tính cả vụ suýt soát 1/5 phụ nữ tuổi trung niên, theo Trung tâm Thống kê Sức Khoẻ Quốc Gia Hoa Kỳ. Thông tin chỉ định thuốc đặc biệt khuyến cáo bệnh nhân nên lưu tâm các triệu chứng như lo lắng, cáu gắt, hoảng sợ bị tấn công, hưng cảm (mania) và ngồi không yên (akathisia, một hội chứng liên quan tới việc giảm thuốc với các dấu hiệu lo lắng, bồn chồn và xung hấn vận động hoặc đi lại tới lui).

Tin tức luôn sống động và do thế, cũng gây sốc. Tỷ dụ, nghiên cứu đầu tiên tại Hoa Kỳ chứng tỏ tập yoga có thể làm thuyên giảm các triệu chứng trầm cảm từ nhẹ tới nặng, dù người ta không dùng thuốc hoặc cóc có đi trị liệu tâm lý; người ta cũng đã tiến hành theo dõi sau 9 năm dùng thuốc ở các bệnh nhân mắc trầm cảm điển hình (MMD). Lần nữa, cần ưu tiên nhu cầu trao đổi và giao tiếp khi lần đầu tiên dùng thuốc, vài tuần đầu nên đặt mục tiêu vừa phải, nhất là tạo thái độ đúng đắn rằng cần có thời gian để nhờ trợ giúp và chữa lành; rằng bác sĩ thì cũng người này kẻ nọ… Sự vụ đẩy tới việc phân biệt trầm cảm nội sinh (melancholic) mí ngoại sinh (phản ứng) cũng như việc điều trị tâm thể (somatic) và giả dược (placebo).

Bởi thuốc gần như khác hẳn trong thế giới thực so với khi chúng được nghiên cứu ở phòng thí nghiệm; một trong những lý do hiển nhiên lý giải tại sao thuốc cơ chừng chẳng hoạt động hoàn hảo như nghiên cứu là vai trò của hiệu ứng giả dược: Ngoài hiệu ứng giả dược (tin thứ gì đó mình dùng có hiệu quả dù nó không đúng thế) vốn được truyền thông và công chúng biết rõ, thực tế còn có hiệu ứng gây hại (nocebo) xảy ra khi một đối tượng kiểm nghiệm mong đợi kết quả xấu từ thứ mình tiếp nạp vào (nói khác, ai đó mong muốn có phản ứng phụ hoặc biến chứng từ một loại thuốc, liệu pháp thì có nhiều khả năng gặp hậu quả tiêu cực hơn so với người không nghĩ rằng một trong hai khả năng xảy đến); một khuôn mặt khác của hiệu ứng giả dược: tác động của mong đợi tiêu cực liên quan tới việc đón nhận một giả dược (lessebo) mà cụ thể là một bệnh nhân tham gia nghiên cứu và được cho thuốc có hiệu quả (vì bệnh Parkinson) không bị giật giật nữa vì đơn giản người ấy biết có giả dược trong nghiên cứu: nghĩ mình có thể dùng giả dược và không dùng thuốc…

Trầm cảm là bệnh tâm thần ảnh hưởng tới cách người ta cảm nhận, suy nghĩ và xử lý các hoạt động hàng ngày; thuốc chống trầm cảm được chỉ định nhằm làm thuyên giảm các triệu chứng trầm cảm và giúp tiến trình não bộ làm việc, dùng một số hoá chất để điều chỉnh tâm trạng hoặc sự căng thẳng tinh thần; tiếc thay, các thuốc hiện có thường đòi hỏi hai tới bốn tuần trước khi bệnh nhân đáp ứng. Có lý do cho sự chậm trễ ấy, và tin vui hy vọng gây tác động nhanh hơn.

Đặt hai nghiên cứu nàynày bên nhau mới thấy hết sự thú vị về mặt lâm sàng của rối loạn trầm cảm. Các loại trầm cảm khác nhau tất dùng thuốc chẳng giống giống nhau; chẳng hiệu quả nhiêu với trẻ nhỏ và vị thành niên song nó lại tỏ ra hoạt động hữu hiệu với kẻ này và, buồn thay, có thể lại là tất cả những gì một kẻ khác đón nhận được khi tháng năm chống chọi kéo dài… Coi trọng việc cá thể hoá, giới chuyên môn giờ đây đã giới thiệu không ít thực đơn, đồ ăn thức uống nên sử dụng, thậm chí, tập thể dục có hiệu quả ấn tượng đâu thua Prozac trong cộng đồng người mắc trầm cảm; trị liệu tâm lý tiếp tục được chứng thực là có thể tác động kỳ diệu.

Rốt ráo, khó chối bỏ các tác dụng ngắn hạn của thuốc chống trầm cảm. Song có vẻ câu chuyện này sẽ chưa hết dây dưa, như lời tác giả nghiên cứu thượng dẫn rằng “điều trị bao gồm cả thuốc lâu dài có thể làm cho chứng trầm cảm tồi tệ thêm; cho tới lúc các cơ chế đem lại lợi lạc và gây hại được thấu hiểu thì các phát hiện tương tự khẳng định việc dùng thuốc chỉ ổn thoả trong ngắn hạn (ví dụ, giảm thiểu nguy cơ tự sát) và cơ chừng đã đánh giá quá nặng nề các hậu quả chậm trễ’.

Kháng cự lại sự thay đổi: ẩn dưới những nhiễu nhương, rối rắm

Trạng thái stress làm tăng lên ước muốn được tưởng thưởng chứ không phải niềm khoái sướng, nghiên cứu cho biết thế.

Thay đổi hiếm khi là tiến trình dễ dàng hoặc đơn giản; nó giúp chúng ta hiểu hơn các lý do chống kháng lại, và tôn trọng những khó khăn, phiền muộn dính dáng, liên quan.

Bố và mẹ đưa con gái 14 tuổi tới trị liệu bởi vì cô bé không hoàn thành bài tập ở trường, và họ đặc biệt khó chịu do phòng riêng của cô gái bày biện ‘thật bê bối’. Vấn đề mới xảy ra tạo nên khủng hoảng từ cuộc cãi vã giữa mẹ và con gái khiến cô bé ném đồ đạc rồi đe dọa tự sát. Người bố đang đi làm nhận điện thoại quay về nhà đưa con vào cấp cứu ở bệnh viện. Sau đó, họ thăm khám một bác sĩ tâm thần và được chẩn đoán khả năng cao mắc rối loạn lưỡng cực type 2, cộng khả năng bị ADHD nữa (dù cô gái có thể tiêu hàng giờ đọc truyện), rồi chỉ định 2 loại thuốc. Cô gái từng uống thuốc vì bệnh hen khá nặng, và bố mẹ đòi được trị liệu vì họ muốn tránh uống thuốc thêm.

Các sự kiện tiếp diễn liên miên xoay quanh chuyện cô gái không hoàn thành bài vở ở trường và khi về nhà dễ là biểu hiện bà mẹ cứ muốn làm con gái ngộ ra các lợi ích của việc chu toàn học hành. Phản ứng từ phía cô gái sẽ cho là mình không có khả năng tập trung đủ để hoàn thành bài vở, và rằng bố mẹ cô không hiểu con gái. Trong nhiều trường hợp tương tự với vụ ai đó phải đi cấp cứu, tương tác này sẽ leo thang tới điểm ông bố có thể buộc phải can thiệp rồi làm sao cho mọi sự lắng xuống. Đây là lần đầu mà sự tương tác căng thẳng đến độ cô gái biểu đạt dự tính tự sát.

Nhà trị liệu đề xuất cách hướng dẫn bố mẹ hiệu quả dựa trên thực chứng. Ông xác định vấn đề là kết quả của việc cô gái tự nhận thấy bản thân mình thiếu khả năng và do đó, không đáp ứng được. Bố mẹ đồng ý đây là quan điểm tự đánh giá mình chẳng hay ho gì. Nhà trị liệu hỏi người mẹ rằng bà đã thắng trong cuộc tranh cãi nào với cô con gái 14 tuổi của mình chưa. Bà mẹ thừa nhận chưa bao giờ thuyết phục được con gái thay đổi. Đó là khuyến cáo bố mẹ cần đặt để thời hạn cho việc học hành ở trường hoặc dọn dẹp phòng ốc ngăn nắp. Nếu không đáp ứng thời hạn, bà mẹ nên có mặt ở phòng con gái mà không để cho con gái có các đồ chơi điện tử ưa thích cho đến khi công việc hoàn tất. Nhà trị liệu giải thích điều này sẽ truyền thông với cô gái là cô có khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Bà mẹ đồng ý thử cách tiếp cận này xem sao. Ông bố, quá mệt vì phải can thiệp, nhất trí song e ngại sự leo thang của con gái sẽ đòi hỏi mình lại can thiệp.

Vào lần gặp sau đó, bà mẹ nói mình đã thử bảo con gái có trách nhiệm đưa bà vào phòng. Đứa con gái la hét, khóc ầm lên hơn cả tiếng đồng hồ, dọa sẽ chết, và rằng mình không hoàn thành công việc được. Cuối cùng, bà mẹ rời khỏi phòng với lời hứa họ sẽ làm bài tập với nhau khi cô gái bình tĩnh đã. Việc này xảy ra ba ngày trước cuộc hẹn và bài tập vẫn để đó…

Một số nhà trị liệu có thể quen đáp ứng bằng việc nói với bố mẹ là họ đang làm hư con gái do không bắt cô bé phải có trách nhiệm xử lý, hoặc đưa ra một số chỉ trích khác về hành vi của bố mẹ chống kháng đề xuất đã nêu. Tuy thế, nhà trị liệu ở đây không hề ngạc nhiên với việc bố mẹ thể hiện như thế. Ông hiểu là khi người ta khư khư với các mẫu hình hành vi, họ thường bộc lộ thế vì các nhu cầu quan trọng được thỏa mãn. Trong tình huống đang bàn, cho thấy bà mẹ ghi nhận việc con gái mình càng dễ xuất hiện cơn suyễn và mức độ trầm trọng hơn khi stress. Phó bản của nỗi sợ ẩn bên dưới này là họ kiềm chế không thể hiện quyền uy chính đáng của người làm cha làm mẹ. Nếu nhà trị liệu tỏ ra hữu ích với bố mẹ và con gái mới lớn, ông phải tìm được cách để thúc đẩy thay đổi trong khi xem xét các nỗi sợ của họ.

Ngoài sự tưởng nghĩ, chúng ta đều ngạc nhiên chân thành khi người ta tạo ra thay đổi cốt lõi trong lối sống của họ, bất kể đó là việc giảm cân, thay đổi cách làm việc như điên dại để dành thời gian nhiều hơn cho gia đình, hoặc chấm dứt chuyện ghen tuông khủng khiếp. Tất cả chúng ta biết mình nên tạo ra sự thay đổi, có lẽ cảm thấy ngu ngốc rằng mình sao không đổi thay, song gì gì thì cuối cùng mọi chuyện vẫn cứ như cũ. Thay đổi thì khó khăn đối với bất kỳ ai. Thực tế, nếu thay đổi dễ dàng thì người ta sẽ ít nhờ các nhà trị liệu trợ giúp. Điều khiến thay đổi quá khó nhọc là vì giống gia đình trên, tất cả chúng ta nhận được các nhu cầu thỏa mãn nhờ các mẫu hình hành vi mình tạo ra, và chúng ta sợ hãi (thường vô thức) mọi thứ sẽ trở nên tồi tệ, hoặc chí ít không còn thoải mái như trước, nếu chúng ta tiền hành mọi thứ khác hẳn đi.

Các nhà trị liệu giỏi giang chẳng ngạc nhiên với sự kháng cự thay đổi, bởi vì họ tôn trọng và thấu hiểu người ta đang nhìn thấy các lý do cho hành vi hiện tại; chưa nói, họ hiểu cách thức người ta ngoài lúc trị liệu đôi khi vượt qua khuynh hướng giữ nguyên trạng, thói quen vi tế đến thế nào.

… Trong phiên làm việc thứ hai, nhà trị liệu trước tiên lấy làm hối tiếc vì đã không lường hết nhiệm vụ khó khăn mà bố mẹ phải đương đầu để giúp đỡ con mình. Ông đề nghị họ đưa con gái đến bác sĩ chuyên khoa điều trị bệnh hen suyễn rồi thảo luận về các nguy cơ do stress tăng lên thêm như kết quả của trị liệu. Rồi họ đi đến chọn lựa nghiêm túc về chuyện tiếp tục trị liệu.

Vào phiên thứ ba, bố mẹ báo tin là bác sĩ bày vẽ cho họ xử lý trạng thái tăng thêm các cơn hen suyễn nhờ sử dụng các dụng cụ y tế thích hợp. Bác sĩ bảo họ rằng cơn hen suyễn không nên được dùng như là cái cớ tránh né trách nhiệm. Cả hai bố mẹ tuyên bố mình đã quyết lựa chọn trị liệu tiếp bất chấp gánh nặng chi phí. Nhà trị liệu khuyến cáo họ là trẻ vị thành niên đầu tiên nên được thử thách hạn chế thôi, và sự thay đổi chỉ diễn ra khi cô gái nhận thấy bố mẹ mình đã giải quyết kỳ vọng của chính họ bằng sự tôn trọng cô đích thực. Nhà trị liệu nói thêm là các đề nghị ban đầu có thể đã làm sự việc vận động quá nhanh và việc chuyển dịch hướng tới thay đổi chậm hơn sẽ khiến mọi người chịu đựng được, ngay cả nếu thời gian kéo dài ra. Rồi ông đề nghị bố mẹ dùng thời gian phạt ‘time-out’ trong phòng với việc đầu tiên chơi điện tử chỉ mỗi 30 phút thôi, rồi tuần tự tăng thời gian phạt nếu vi phạm.

Gia đình trở lại trị liệu hai tuần sau với thổ lộ là đã có tiến bộ đáng kể. Hai ngày sau chế độ phạt 30 phút, họ quyết định muốn cải thiện nhanh hơn lên và đã giữ con gái trong phòng hết cả buổi chiều bởi vì cô gái không làm xong bài tập. Mặc cho cô gái đập cửa thình thịch khoảng hai giờ đồng hồ, họ cũng không xiêu lòng. Họ quan tâm chút ít khi cô gái im tiếng, đã kiểm tra và thấy cô gái ngủ với hơi thở không quá nặng nhọc. Đêm kế tiếp họ dọa phạt cô gái tương tự, và bài tập đã được làm đầy đủ trong một tiếng đồng hồ.

… Một số độc giả có thể thắc mắc sao nhà trị liệu ban đầu nói chuyện rất ít với cô gái nhỏ. Điều ấy là cố ý. Nhà trị liệu quan niệm trẻ vị thành niên đang có quá nhiều quyền lực, và do đó, không muốn đưa cô bé vào trong các quyết định cho đến bố mẹ cô thiết lập uy quyền. Với một số tiến bộ tạo ra, nhà trị liệu tập trung quan tâm nhiều hơn vào cô gái. Ông hỏi cô gái mô tả về điều tự do mới mẻ nào cô ưa thích, khi cô gái cho thấy mình đang ngày càng tỏ ra có trách nhiệm.

Tóm lại, kháng cự là phản ứng tự nhiên và dễ đoán định trước đổi thay. Vượt qua sự kháng cự thay đổi đòi hỏi trình tự tìm ra các cách thức mới nhằm đạt được các nhu cầu căn cốt, trong khi lảng tránh các vấn đề tồn đọng. Sự tôn trọng của nhà trị liệu với tiến trình này là một hợp phần hết sức thiết yếu.

Trong muôn trùng xô đẩy…

Vui thay việc sống giữa đời- Điều may cùng chọn, tiệc lời họa sa…- Chốn nào cũng nước non nhà- Lòng yêu rải khắp ta bà mới thôi!–

Vắng thiếu dấu ấn sinh học (biological marker), chẩn đoán đương đại về tâm thần phân liệt (schizophrenia) cũng như việc điều trị chủ yếu hiện vẫn dựa vào các bảng hỏi thăm dò lâm sàng; không ngạc nhiên lắm là tỷ lệ đáp ứng chưa được thỏa mãn, đặc biệt sau nhiều nỗ lực điều trị hỗn hợp, ngoài ra sự tái phát thì thường gặp với người mắc TTPL ngưng sử dụng thuốc.

Dẫu vậy, chúng ta cũng đang hưởng thụ lợi lạc nhờ vào các thành tựu nghiên cứu liên quan, tỷ dụ cụ thể như việc hướng dẫn dùng thuốc chống loạn thần chẳng hạn.

1. Chúng chỉ được chỉ định cho những ai có biểu hiện loạn thần sớm (hoang tưởng, ảo giác hoặc buồn vui thất thường).

2. Một khi chỉ định rồi thì cần được giám sát rất chặt chẽ.

3. Hiếm lắm mới chỉ định dùng cùng lúc 2 loại hoặc hơn.

4. Không nên tiếp tục ưu tiên lựa chọn với cơn mất ngủ dai dẳng.

5. Không dùng chỉ vì mỗi lý do ‘khó kiểm soát về mặt hành vi’ ở trẻ nhỏ là con cái người đã già cả.

6. Có một số bằng chứng lâm sàng để dùng cho người mắc Tự kỷ (autism).

Thêm nữa, với việc cần sa (marijuna) dần dần được chấp nhận dùng rộng rãi hơn cho mục đích y tế, rõ ràng cấm sử dụng nó với người đã dễ bị tổn thương do các trạng thái loạn thần rồi. Thực tế, với trạng thái gọi là “spiceophrenia” làm tăng tốc hơn các trạng thái tiền loạn thần đồng thời khiến việc theo dõi lâm sàng thêm phần thách thức. Bằng chứng này được khẳng định chắc chắn.

Về khía cạnh bệnh nguyên học, rối loạn TTPL cơ chừng đa yếu tố cả từ việc tạo hậu quả lẫn các biểu hiện bệnh lý. Hầu hết những gì chúng ta nghĩ mình biết về TTPL chủ yếu thuộc lý thuyết với rất ít bằng chứng lâm sàng chẳng đáng kể bao nhiêu.

Và cuối cùng, các cách can thiệp y- sinh như sốc điện (ECT), kích hoạt sóng từ cực đại (TMS), phẫu thuật tâm lý (psychosurgery), và trị liệu gene thì có ít hoặc không thể hiện bao nhiêu hiệu quả. Đa phần các rối loạn liên quan đến hành vi lành mạnh được xem là đa gene và khá không đồng nhất trong việc bộc lộ cũng như điều trị chúng.

Tóm lại, còn cả con đường dài phía trước trong nỗ lực quản lý TTPL về mặt lâm sàng theo cách thức thật an toàn và hiệu quả.

Những biểu hiện khó ngờ của trạng thái trầm cảm (2)

Khi thuốc chống trầm cảm lại là nguyên nhân gây trầm cảm thì tỉnh thức (mindfulness) càng nên được dùng như một liệu pháp để làm giảm các triệu chứng liên quan ở môi trường học đường.

Tiếp theo sự khơi mào cơn tức giận hôm nọ, giờ chúng ta thử xem xét thế hệ trẻ ngày nay có thể học hỏi được gì từ rối loạn khá quen thuộc này.

Tôi muốn theo sát chủ đề vừa nêu bởi mới đây, một cậu bạn trẻ làm trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật bất chợt thổ lộ rằng chắc chàng ta cần uống thuốc trầm cảm mất thôi (antidepressant).

Song trước khi bàn đến thuốc, liệu có ai dám quả quyết là tinh thần lạc quan sẽ phá hủy tất cả chúng ta. Dĩ nhiên, trả lời ngắn gọn một cách nghiêm túc: không.

Chẳng phải chờ đến sáng nay để đọc bài trên NYT; suy nghĩ tích cực, như chỉ trích cho thấy, kế thừa lịch sử dài lâu, đặc biệt ở Hoa Kỳ. Tại sao nó dễ khiến chúng ta phải lòng nhanh chóng quá vậy? Đơn giản vì chúng ta quá hạnh phúc (đất nước của những người bán trà đá vỉa hè cũng thừa tiền sắm Iphone 6) nên vì rứa, cả tin và bị lừa chăng? Tất cả các dạng kiểu ‘khoa học’ (trăm hoa đua nở hội thảo và chuyên đề, khóa học nọ kia) cùng tâm lý học đang không ngừng kể câu chuyện chúng ta háo hức muốn biết tường tận: hạnh phúc là điều tốt lành (hic, dính dáng vào khiến tôi cảm thấy bản thân thật tội lỗi).

Đạo Phật đã thành công dưới thương hiệu ‘tâm lý học tích cực’; theo lối nhìn thế thì lại rất thích hợp với những trào lưu phát triển hiện đại trong đạo Chúa như phái tả Phúc Âm (evangelist) chẳng hạn. Về mặt lịch sử, Công giáo (Christianity) thường được nhìn nhận là thuộc tâm lý cực kỳ tiêu cực, dựa trên việc quy rút cá nhân thành con sâu cái kiến bé nhỏ qua cái nhìn của đức Chúa nên nó dễ được hưởng hồng ân quan phòng che chở của đấng Christ, hoặc sát gần hơn, Nhà Thờ; cơ chừng đạo Chúa hiện đại đa phần từ bỏ các cách thức đun sôi sùng sục và ám ảnh bởi tội lỗi trong quá khứ. Song các dịch vụ happy-clappy của những tân Phúc Âm không hề khởi từ truyền thống cổ đại, chẳng xa hơn hậu Thanh giáo (Puritan) Hoa Kỳ.

Cần biết thêm chút, đạo Phật bảo con người ta chịu trách nhiệm với niềm đau nỗi khổ của chính họ. Tại sao lo lắng về các điều kiện xã hội, nghèo đói, hoặc phân biệt đối xử… Điều này trái ngược với sự nhấn mạnh tới lòng từ bi (compassion) trong đạo Phật hiện đại, dù chúng ta không thể phủ nhận rằng các lực lượng mang tính ái kỷ ‘tôi và hạnh phúc của tôi’ hiện đang tồn còn và đầy quyền năng. Đúng ra, đạo Phật đích thực thì gây ấn tượng về sự cân bằng; vì mỗi tích cực có một tiêu cực…

Hễ khi nào chúng ta lý tưởng hóa hạnh phúc, chúng ta giận ghét một con người buồn bã. Vâng, các bản văn thiền định Phật giáo không những hay trình bày về hạnh phúc mà chúng còn biểu tỏ ‘trầm cảm tâm linh’ (một ví dụ so sánh) khởi lên khi lặng ngắm Pháp (dhamma) diệu kỳ mà người ta chưa từng đạt được.

Với những ai cảm thấy lạc lõng và bơ vơ trong biển cả đầy ắp các khuôn mặt cười, có rất nhiều các bản kinh làm mình phiền muộn để mà giải khuây. Và nghệ thuật đủ sức khiến ta chùng xuống và thoát khỏi các cảm xúc hạnh phúc giả tạo ghê gớm; thời buổi internet ngày nay đâu khó tìm thấy các minh họa về một bài hát quá chừng buồn luôn, một truyện ngắn đau thương, hoặc một bộ phim làm ta khóc ngất… Và nếu chưa xứng, luôn có các chương trình phim kinh dị trên TV với bản tin thời sự ‘cướp- giết- hiếp’ hàng ngày.

… Giờ chính thức chạm tới đề tài thuốc men và sự giải trí.

Để cảm thấy tốt hơn, uống một viên thuốc đi nhé.

Đó đích thị là thứ logic ẩn bên dưới việc dùng thuốc men phục vụ cho việc giải trí, tiêu khiển, đỡ đau đầu; và nó cũng là logic sát đúng với cả y khoa hiện đại.

Điểm khác biệt ở chỗ, nếu một người quyết định ý chí để uống thuốc, hoặc hút điếu, hoặc tiêm gì đó. v.v… để bản thân thấy vui vẻ thì rõ là họ biến mình thành tội đồ hư hỏng đáng bị trừng phạt (?!)… Dĩ nhiên, không phải không có khác biệt nào giữa y khoa và việc dùng thuốc cho mục đích giải trí; chắc chắn có, và chắc chắn ở đó hiện diện vai trò của các chuyên gia sức khỏe. Vấn đề là các điểm khác biệt ấy thuộc phổ dài rộng của việc sử dụng, và tần suất bao gồm các tiền chất giống nhau, rồi chưa nói các cấu trúc hợp pháp đương đại tạo nên cuộc ly dị giả vờ giữa chúng nữa cơ.

Lần nữa, về mặt lịch sử, hầu hết các loại thuốc mang tính giải khuây đều có ứng dụng y khoa theo kèm: thuốc phiện, cần sa, LSD,..; tương tự, nhiều thuốc y khoa theo toa vẫn quen dùng cho mục tiêu thông thường, bất kể được phép hay dùng lậu.

Vấn đề căn cốt hơn: việc tạo tác một thời đại hữu hiệu của uy quyền, thiết chế y khoa kiến lập một thứ văn hóa khiến người ta nồng nhiệt tin tưởng rằng uống thuốc là giải pháp cho vấn đề, và nó dẫn tới vui vẻ, hạnh phúc. Nếu đúng thế, y khoa hiện đại quy về lỗi trực tiếp lẫn gián tiếp: tạo nên quá nhiều thuốc có khả năng gây nghiện và điều kiện hóa về mặt xã hội cho việc kiếm tìm giải pháp nhờ thuốc men.

Đáp ứng hữu lý, cả sức khỏe thể chất lẫn tâm lý, là chuyển khỏi cách tiếp cận lấy thuốc men làm trọng tâm để bước sang cái nhìn tổng thể, toàn diện. Trị liệu cả con người, chứ không chỉ nhắm vào bệnh tật. Cách tiếp cận này đặc biệt thích hợp trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần, nơi các liệu pháp dựa vào tỉnh thức (mindfulness-based) được chứng thực là mang lại hiệu quả hơn thuốc men trong việc xử lý hàng loạt vấn đề, gồm cả rối loạn trầm cảm.

Xác định hành vi bất thường và mô hình y khoa điều trị rối loạn tâm thần

Khi xem xét các yếu tố quan trọng nhất liên quan đến sức khỏe tâm thần nói chung, thường một chuyện đích thực căn bản lại rất hay bị lờ đi. Đó không phải là chuyện giảm stress, một chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục, các quan hệ tốt đẹp, hoặc tuân thủ thuốc đã chỉ định.

Điều gì ư? Đó là để họ ngủ như với người lính sống sót trong vụ tai nạn chết người do rơi máy bay. Lên cơn hoảng loạn, ngất xỉu, kiệt sức và sợ hãi, nhiều người trải qua sang chấn có thể cảm thấy thân xác rã rời và suy yếu với trạng thái tinh thần bị đánh sụp nghiêm trọng.

Tại sao ta làm điều ấy trước tiên? Bởi vì ngủ là điều quan trọng nhất để phục hồi sức khỏe tinh thần. Chúng mình có thể đã lâu không ăn, uống gì song không thể không ngủ; vấn đề quan trọng này thường hay bị lờ đi, và chúng ta quen nhắm tới chế độ dinh dưỡng và tập luyện thân thể. Ngủ quan trọng, song người ta thường nỗ lực lập công đến độ quên ngủ đủ vì muốn phá vỡ các kỷ lục thế giới. Sau vài ngày, người ta khởi đầu ảo ảnh, ngôn ngữ trở nên mông lung và các giác quan dần trục trặc. Thiếu ngủ là vấn đề nghiêm trọng gây ra các nguy biến cho sức khỏe nói chung.

Dĩ nhiên, nghệ thuật và trò chơi không chỉ dành riêng cho trẻ con. Các hình vẽ, đường nét cho người ta phương thức biểu đạt những gì xảy ra với bản thân nhiều hơn là dùng thuần túy kể lể. Nền văn hóa chúng ta còn chú trọng đến giá trị của các từ cất thành tiếng cùng lắm suy tư đầy trí tuệ. Song các cảm xúc, thường biểu đạt qua nghệ thuật và trò chơi, có thể đôi khi mang quyền năng gấp hàng ngàn lần; liên quan riêng đến sang chấn, dân gian quả là sáng suốt qua ví von: “một bức tranh giá trị cả ngàn lời nói”.

… Lòng vòng chút để quay về bàn thế nào là hành vi bất thường cũng như vấn đề xác định rối loạn tâm thần.

Khi miêu tả mô hình y khoa áp dụng cho việc chẩn đoán bệnh tâm thần, thường thấy giải thích rằng bệnh tâm thần được nhìn như hành vi bất thường, và điều ấy làm nảy sinh câu hỏi: làm thế nào chúng ta quyết định một hành vi con người nào đó là ‘bất thường’ và ‘bình thường’?

Liệu chúng ta nên gọi hành vi vô đạo đức là ‘bất thường’? Nếu vậy, chúng ta sẽ áp dụng đạo đức loại gì đây? Một số nền văn hóa cho phép có nhiều vợ, một số xem như thế là vô đạo đức; một số cho phép dùng rượu bia, một số xem thế là vô đạo đức; một số ăn thịt bò, một số xem bò là vật thiêng nên việc ăn thịt bò là vô đạo đức. Phiên bản đạo đức nào đảm bảo tính chuẩn tắc đây? Liệu chúng ta nên gọi các hành vi đặc biệt là ‘bất thường’? Tôn giáo của ai đó có thể là ‘bất thường’ với niềm tin của kẻ khác.

Chúng ta nên gọi hành vi đặc biệt là ‘bất thường’? Đặc biệt, khác thường với ai? Một số nhìn việc xăm hình là bất thường, một số không; một số cho là bất thường khi nghe các tiếng nói hoặc nhìn thấy những điều không hiện diện nơi này, những người khác xem xét điều ấy như là trải nghiệm tâm linh. Các nhà tâm lý tin rằng một số tác gia sáng tạo nổi tiếng như Isaac Newton, Albert Einstein, Vincent Van Gohh, Emly Dickinson là các nhân cách có biểu hiện, kiểu dạng tâm thần phân liệt. Chuyện gì xảy ra nếu giả định là họ bị buộc phải làm người bình thường? Làm thế nào điều ấy ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo của họ?

Một cách có thể xác định vấn đề các hành vi trở thành “bất thường’ và cần can thiệp tâm lý là khi thân chủ trải nghiệm hành vi đang có vấn đề, hoặc nhận ra hành vi quấy nhiễu việc thực hiện chức năng khiến họ không dấn thân đủ đầy trong đời sống, như họ xác định về chúng. 

Theo thời gian, cơ chừng cách nghĩ này vẫn còn hữu dụng. Điều quan trọng là lưu ý rằng tùy vào thân chủ để quyết định xem hành vi trở thành vấn đề, chứ không phải do ai đó khác. Chúng ta gặp người cứ khăng khăng đòi ai đó cần phải thay đổi hành vi của họ; kiểu như viết thư hỏi làm thế nào để buộc một người bạn nhất thiết dùng thuốc, rõ ràng, người này không thoải mái với hành vi và trải nghiệm của bạn mình, song thật tiếc chúng ta không nhìn thấy anh ta khó chịu với hành vi hoặc trải nghiệm của bản thân.

Có thể xác định ‘chức năng’ như này. Là người đó:

  1. ăn
  2. ngủ
  3. tương tác với người khác theo ý thích
  4. làm việc như mình thiết lập
  5. tiến hành thích đáng việc tự chăm sóc bản thân như cách họ xác định (ví dụ, vệ sinh, chăm chữa y tế)

Vậy áp dụng cách nào trong thực tế? Liệu người dưới đây là ‘bất thường’?

  1. Một người đàn ông mặc bộ đầm dài
  2. Người làm nhà sống trên cây
  3. Ai đó chọn lối sống ‘ẩn dật’

Rốt ráo, tất quay về xem họ tự đánh giá đấy có là vấn đề không; trừ hai ngoại lệ với nguyên tắc chung này là:

  1. Khi ai đó ngừng ngắt hoàn toàn chức năng đến độ đời sống của họ gặp nguy hiểm. Nếu họ không thể ăn uống, ngủ nghỉ, có xu hướng gây thương tích hoặc sức khỏe đe dọa mạng sống hoặc họ thể hiện hành vi khác đe dọa mạng sống trong một vụ can thiệp đảm bảo chất lượng song không được họ đồng thuận.
  2. Khi ai đó gây nguy hiểm cho những người khác, một vụ can thiệp đảm bảo bảo chất lượng song không được họ đồng thuận.

Tuy vậy, nếu họ không hề tự gây nguy hiểm cho bản thân hoặc cho người khác thì tôi tin, thân chủ nên là người quyết định hành vi của họ là ‘bất thường’ hay không và có ước muốn nhờ sự trợ giúp. Bạn đọc nghĩ gì, làm thế nào chúng ta quyết định thế nào ‘bình thường’ và khi nào thì hành vi trở nên ‘bất thường’?

Hệ thống vẫn tận dụng được để chẩn đoán và điều trị các ‘rối loạn’ tâm thần là mô hình y khoa. Thế nào là ‘mô hình y khoa’ và tại sao nó lại quan trọng đối với sự hiểu biết của quảng đại quần chúng?

Mô hình y khoa là một cách để nhìn nhận về các vấn đề sức khỏe tâm thần. Có thể chỉ ra những điểm khác biệt giữa mô hình y khoa và mô hình xã hội trong nhìn nhận các thiếu hụt thể lý, tinh thần hoăc cảm quan chẳng hạn.

Khái niệm ‘bất thường’ được mang khoác vào một ý nghĩa ngụy khoa học rất lớn; vốn nó dựa trên các lượng giá từ quan điểm khuyết thiếu chống kháng với sự bình thường: những gì người ta không thể làm, so với những gì ai đó có thể thực hiện được. Mô hình y khoa, tỷ dụ, nhìn người khuyết tật như kẻ có vấn đề; họ cần được thích ứng với thế giới như nó là vậy.

Nền văn hóa đặt nặng vào mô hình y khoa về sức khỏe tâm thần. Nếu chúng ta trải nghiệm khó chịu về mặt tinh thần hoặc cảm xúc căng thẳng thì rồi ta vội tìm đến bác sĩ để được cho toa uống thuốc. Làm thế nào điều này ảnh hưởng tới việc điều trị các vấn đề sức khỏe tâm thần?

1. Các cảm xúc được xem là ‘bất thường’ và ‘được điều trị’. Tại sao điều này lại là vấn đề? Bởi đa phần các đáp ứng cảm xúc đối với những sự kiện ở đời là bình thường.

2. Bác sĩ ‘chỉ định’ thuốc. Bệnh nhân trải qua các chuyện tác dụng phụ hoặc phàn nàn về cảm xúc của họ đang bị ‘tê đờ’ có liên quan với việc thay đổi thuốc uống. Bệnh nhân gián đoạn việc uống thuốc vì họ cảm thấy chúng không hiệu quả, hoặc gây tác dụng phụ chẳng chịu đựng thêm được nữa so với nhãn mác khuyến cáo.

3. Bệnh nhân được điều trị không như một người cộng sự hoặc đối tác bình đẳng trong mối quan hệ bác sĩ/ bệnh nhân. Bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân và đưa ra các y lệnh, chỉ định. Thường thì các chẩn đoán không được thảo luận với bệnh nhân cũng như không hề mời gọi họ tham gia vào tiến trình chẩn đoán.

4. Một chẩn đoán sai lệch khỏi chuẩn mực hoặc tính bất bình thường thì cần tìm đến việc giải quyết vấn đề sức khỏe tâm thần. Phương pháp giải quyết các vấn đề sức khỏe tâm thần quá phổ biến đến độ nhiều thân chủ tin rằng họ phải được chẩn đoán thì mới giải quyết được vấn đề. Đây đích thực không phải là sự thật. Hệ thống chẩn đoán được tạo ra tuân theo mục đích nghiên cứu; về sau được các hãng dược chấp nhận như một mã hóa các ‘rối loạn’ phục vụ mục đích của họ. Một chẩn đoán không nhất thiết điều trị một vấn đề trục trặc thuộc sức khỏe tâm thần và nhiều nhà thực hành chối từ việc đưa ra chẩn đoán. Nhiều nhà lâm sàng tin là việc chẩn đoán đặt một  nhãn mác không cần thiết để bảo thân chủ rằng họ đang ‘bất thường’ bất chấp việc họ không ngừng nhận ra dù làm bất kỳ gì, thân chủ đang thể hiện một cơ chế phỏng vệ mà họ phát triển nhằm giải quyết với đời. Họ thích nhìn thân chủ như các kẻ sống sót làm bất cứ điều chi để vượt thoát được giai đoạn này. Họ nhìn nhận thân chủ là đối tượng đang đề nghị được giúp đỡ như con người hiện kiếm tìm các cách thức phát triển tốt đẹp hơn theo hướng giải quyết vấn đề, và đây là sự lựa của một con người hết sức lành mạnh.

5. Hành vi ‘bất thường’ được xác định rồi và bất kỳ điều gì khác biệt với nhãn mác này là ‘bất thường’ và đôi điều gì đó vì thế, cần được chỉnh sửa, khớp khít lại. Song ai xác định như nào là ‘bình thường’. Sự chuẩn tắc đến từ ai?

6. Lĩnh vực y khoa chịu ảnh hưởng sâu nặng bởi các hãng dược hướng tới thuốc men đầu tiên, và đôi khi, là cách điều trị duy nhất dù có nhiều cách khác tương ứng và lắm lúc tính khoa học còn đáng tin cậy hơn. Một ví dụ, nghiên cứu khẳng định nhất quán rằng tâm lý trị liệu với trầm cảm có thể nên được dùng là liệu pháp trước tiên trừ khi người đó hăng hái tự sát. Các thuốc chống trầm cảm chỉ nên dùng thêm vào khi tự thân tâm lý trị liệu không đáp ứng ổn thỏa toàn bộ hoặc bản thân người đó không chắc với chuyện họ tự sát hoặc không đảm bảo chức năng đủ để tham gia các phiên trị liệu. Tiếc là tâm lý trị liệu hiếm khi được khuyến cáo trước, và đầu tiên thường luôn là thuốc chống trầm cảm.

Điều quan trọng là cần hiểu biết cách thức mô hình y khoa tác động đến việc điều trị các vấn đề sức khỏe tâm thần trong đời sống văn hóa của chúng ta. Quan trọng không kém còn là việc nhận ra có các phương pháp trị liệu thay thế khác nữa. Các thân chủ nên được khuyến khích kiếm tìm các phương thức lành mạnh tác động đến cảm xúc và tâm trạng của họ bất kể đó là việc luyện tập thể lực, thiền tập, thay đổi chế độ dinh dưỡng lành mạnh hơn, ngủ nhiều hơn, giảm thiểu các tác nhân gây stress trong đời sống, chuyển đổi công việc, tham gia trị liệu tâm lý, giải quyết các bất ổn trong hệ thống gia đình, đăng ký học một lớp yoga, dành nhiều thời gian hơn cho gia đình hoặc các sở thích, biểu đạt bản thân thật sáng tạo hoặc phát triển chiều kích tâm linh,… Thân chủ nên được nhìn nhận lại sức khỏe tâm trí và việc trị liệu sức khỏe tâm thần trong chuyện chăm sóc và chữa lành bản thân theo cách riêng.

Phải làm sao khi trầm cảm đang âm thầm trở lại ?

Nữ 25 tuổi. Khi còn bé là một cô gái sống nội tâm và trầm lặng. Không có nhiều bạn bè, và suốt thời mới lớn tuyền bị bắt nạt.

Cô ấy cảm thấy bị mắc kẹt, không biết phải làm sao. Nhỏ đi học thì đạt toàn điểm chín, mười song trầm cảm đã thay đổi tất cả; sức học chợt giảm sút, tầm 12 tuổi bắt đầu tự hành hạ bản thân rồi trải nghiệm cơn đau nửa đầu khá thường xuyên; 16 tuổi, nảy sinh dự tính tự sát. Tự nhờ vả người quen đưa đi khám và uống thuốc chống trầm cảm Prozac.

Tuy thế, cô gái không ngừng chuyện tự gây hại hoàn toàn; bẵng vài năm nay lại thi thoảng quay về từ dăm tháng gần đây trước khi chấm dứt hẳn. Cô không chắc vụ này có liên quan với các mối quan hệ riêng tư. Chuyện yêu đương thì khá đau đớn, từng trải qua một mối quan hệ bị chửi bới, chì chiết, nhục mạ nặng nề bằng câu chữ khoảng gần hai năm rưỡi. Hiện vòng tròn bạn bè mở rộng, tăng lên song vẫn thấy khó kết nối hoặc bày tỏ cảm xúc bản thân chân tình được. Ngại nói về gia đình vì ở nhà bị bố đổ tội cho nhiều thứ, so sánh với các cậu bạn khác ở trường; ông bố cũng chẳng nhận ra cô ấy bị trầm cảm mà cứ ngỡ con mình ám ảnh điều gì đó mang tính mê tín, siêu nhiên nọ kia vớ vẩn.

Cô gái nhận ra mình có nhiều thay đổi trong hành vi. Dễ cáu gắt, lúc nào cũng thấy mỏi mệt, thường trằn trọc cả đêm, ăn uống ngon dở thất thường, hay khóc lóc, và thường thích giấu mình trong phòng hơn là đi ra ngoài chơi. Các cơn đau nửa đầu xuất hiện mạnh hơn, chẳng có hoạt động gì khiến cô ấy thấy phấn khích để dấn thân vào, bài vở thì chểnh mảng… Mọi thứ nghe chừng quá quen thuộc, giông giống thuở nào, nhắc nhở cô rằng đã mười năm trôi qua. Tuy không còn ước muốn tự sát nữa song cô gái lại cố sức chống chọi với ý nghĩ đọa đầy bản thân. Cô gái gửi thư chia sẻ, không muốn lộ diện hay đưa mình đến thăm khám bất kỳ đâu vì ngại nỗi lo lắng sẽ thành sự thật; cùng lúc, cô lại cảm thấy không chịu đựng nổi lối sống như thế này thêm nữa. Cô tự hỏi thế nào mới là hạnh phúc, dù thổ lộ rằng càng ngày có vẻ hạnh phúc càng là điều gì quá chừng xa vời, nằm ngoài tầm tay với. Cô đánh mất niềm tin vào con người, cũng chẳng tìm ra nổi động cơ để kết thúc năm cuối đại học.

… Dễ nhận ra là cô gái cho dù kháng cự song trầm cảm đã quay trở lại, thứ hội chứng khá dễ nảy sinh nhiều cơn tái phát bất ngờ. Các triệu chứng, dấu hiệu cô kể minh họa điều ấy. Những đám mây tâm trạng sầu buồn, xám xịt và trầm uất khiến suy nghĩ trở nên nặng nề, khó đưa ra quyết định và lựa chọn tốt lành cũng như nhìn đâu cũng tuyền thấy tiêu cực, u ám.

Do cô không cho biết trước đây từng trị liệu có bao gồm cả tâm lý hay chỉ dùng mỗi thuốc uống mà thôi, nên tôi động viên cô thử tìm kiếm sự trợ giúp từ bộ phận tham vấn học đường hoặc ai đó làm tâm lý trị liệu ở trường đại học; tính cả việc tìm đến một bác sĩ tâm thần khác để lượng giá hàm lượng Prozac hoặc chọn lựa sử dụng loại khác với liều dùng phù hợp… Nếu chuyện kết thúc khóa học là khó khăn thì cô có thể xuống phòng y tế của trường để xin giấy khám sức khỏe, nhập viện để đảm bảo được nghỉ học một thời gian hợp pháp, cho tới lúc cô cảm thấy tiến bộ, cải thiện tâm trạng chung nhờ tham vấn tâm lý bên cạnh việc uống thuốc chống trầm cảm; giữ liên lạc với bạn bè để thi thoảng có thể tham gia tụ bạ vui vẻ…

Như một người trưởng thành, tôi tin cô gái có quyền để chọn lựa cách trị liệu mà không nhất thiết hỏi ý kiến của gia đình hoặc chia sẻ thông tin với ông bố. Cơ chừng ông bố không phải là nguồn trợ giúp cảm xúc ổn thỏa thời điểm này. Thực tế, nhiều nền văn hóa, tôn giáo, hoặc thế hệ hay yếu tố khó bao quát hết có những quan niệm thiết lập niềm tin không đích thị chính xác về trầm cảm hoặc các rối loạn tâm thần khác. Quả là bất lợi khi ông bố không đủ hiểu biết và trợ giúp điều trị trầm cảm hữu hiệu cho cô con gái.

Bởi vì cô gái từng có tiền sử tự hành hạ bản thân và nảy sinh dự tính tự sát, thật đáng quan tâm trước các suy tư muốn tự làm hại bản thân. Vì cô gái đã từng chịu đựng trầm cảm hồi còn trẻ nhỏ, các trải nghiệm này là tạm thời, nên chi cô gái sẽ dễ tìm thấy sự nguôi ngoai và khuây khỏa buồn phiền nếu được trị liệu thích đáng.

Cầu mong mọi điều yên an, thư thái và như ý ít nhiều.

Với kết quả test, liệu tôi đã mắc rối loạn tâm thần XYZ?

Không còn là điều hết sức bí mật hoặc sự gì quá chừng xa xôi cho việc tiếp cận và sử dụng các trắc nghiệm tâm lý lâm sàng khác nhau, cả thông qua hình thức chúng ta tự âm thầm tiến hành trực tuyến trên mạng lưới điểm toàn cầu hoặc được ai đó hướng dẫn rõ ràng nhờ tài liệu, sách vở bằng giấy in. Người làm việc trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ chăm sóc khỏe tâm thần nói chung, nhất là mí bạn sinh viên mới ra trường, thừa tự tin hay tranh thủ xin xỏ test cũng như ưu tiên nhanh nhạy để tận dụng tối đa cơ hội xiển dương nghề nghiệp này như kiểu đang sở hữu một món hàng độc (sic).

Nên không lạ lẫm hay ngỡ ngàng lắm khi có cô gái còn rất trẻ viết thư bảo mình thuộc dạng xác suất rất cao mắc rối loạn lưỡng cực (bipolar disoder) sau khi tự làm trắc nghiệm trực tuyến bằng Anh ngữ; tuy thế, cô học trò trường phổ thông chuyên này cũng hiểu biết ít nhiều để chia sẻ thêm rằng mình không hoàn toàn nghiêm túc khi nhìn vào kết quả…

Trái lại, từng gặp bà mẹ trí thức cuống cuồng vì phát hiện cô con gái 19 tuổi đang bỏ bê học hành, suốt ngày ủ rũ và bất chợt khóc lóc sau khi thực hiện một số trắc nghiệm trực tuyến rồi thấy mình đạt tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn phân liệt cảm xúc (schizoaffective disorder).

Thực tế, một số trắc nghiệm trực tuyến là cực kỳ quá dễ gây lầm lạc. Có một sự khác biệt thông thường rất lớn giữa tri giác của một người về cách thức người đó là và những gì chúng ta gọi các tiêu chí lâm sàng cho một rối loạn tâm thần.

Nếu nhìn vào một câu hỏi kiểu như “Đôi khi tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc”, hầu hết người ta có thể nhớ lại thời điểm có liên quan, họ hạnh phúc hơn ‘bình thường’. Tuy thế, từ quan điểm lâm sàng, hạnh phúc tột độ tìm thấy ở rối loạn lưỡng cực là một triệu chứng nghiêm trọng đang khiến họ mất khả năng… Triệu chứng “tiêu sắm vô tội vạ” là ví dụ khác; một người trưởng thành lành mạnh có thể bị xem là mua đồ kinh khủng khi tiêu hàng trăm triệu đồng cho áo xống, trong khi với rối loạn lưỡng cực thì “tiêu sắm vô tội vạ” lại còn tệ hại hơn, tỷ dụ bệnh nhân vào viện để phẫu thuật y khoa và đã buộc người nhà đem đặt cạnh giường laptop màn hình lớn đặng cập nhật thông tin trên kênh truyền hình mua sắm.

Lựa chọn tốt nhất có thể nghĩ tới nhanh chóng là tìm kiếm lời tư vấn từ một chuyên gia sức khỏe tâm thần; hầu hết các nhà tâm thần học và tâm lý học có thể trả lời các câu hỏi và mối quan tâm của thân chủ mình chỉ trong vài phiên làm việc; điều này đặc biệt quan trọng nếu ta đang trải nghiệm các triệu chứng khiến hàng ngày cảm thấy càng khó khăn để sống hơn.

Nhân tiện, phân liệt cảm xúc là dạng kết hợp tâm thần phân liệt (schizophrenia) với một rối loạn cảm xúc (khí chất) như trầm cảm (depression) hoặc rối loạn lưỡng cực.

Thật không may như với tất các các rối loạn tâm thần và cảm xúc, chẳng có trắc nghiệm nào quen dùng để chẩn đoán hoặc khẳng định sự hiện diện của một rối loạn. Tôi đồ rằng kiểu test bà mẹ trí thức trên dễ chừng là dạng trắc nghiệm tự khai (self-report test) mà cô con gái tìm thấy trên mạng. Các kiểu lượng giá như thế mang nghĩa tầm soát về tính khả thể của một rối loạn, song có rất nhiều lý do cho thấy tại sao các test ấy không đáng tin cậy và thường mới đưa ra được các chỉ dấu rất thô sơ trên tiến trình lượng giá chuyên nghiệp mà thôi.

Quả đúng là giới chuyên môn sức khỏe tâm thần dựa vào các triệu chứng thân chủ tự khai để xác lập một chẩn đoán; tuy vậy, nhờ việc đặt các câu hỏi mà họ có thể làm rõ ràng và khám phá các trải nghiệm của bệnh nhân, rồi phán đoán các triệu chứng đã thu thập; các trắc nghiệm trực tuyến hoặc làm trên giấy in thì không đạt đến được vậy. Do đó, một số người có thể trả lời các câu hỏi đăng tải lên theo các cách dễ thêm vào một điểm số dẫn đến một vấn đề sức khỏe tâm thần, đơn giản bởi vì các cách thức họ diễn giải những gì được hỏi, hoặc ý nghĩa từ các lựa chọn đề nghị.

Hơn nữa, còn có vấn đề của việc chồng lấn các triệu chứng tâm thần. Rất nhiều chẩn đoán khác biệt có thể bao gồm trong một số khía cạnh mà cô nữ sinh viên trải nghiệm mắc phải. Tỷ dụ, trong khi tâm thần phân liệt gồm các ảo giác (các trải nghiệm cảm quan sai lệch) và hoang tưởng (các niềm tin lầm lạc) thì rối loạn trầm cảm nghiêm trọng đôi khi cũng chứa các triệu chứng nặng nề này. Các vấn đề khí chất (cảm xúc), như trầm cảm và lo âu, thường là các chẩn đoán tâm thần phức tạp. Chính sự rối rắm của các chẩn đoán tâm thần nên điều quan trọng là nữ sinh viên cần được lượng giá bởi một chuyên gia sức khỏe tâm thần có bằng cấp. Chẩn đoán chính xác thường rất khó khăn (và lắm khi bất khả), song cơ bản là biết liệu cô con gái có đang trải nghiệm một số triệu chứng ám chỉ tâm thần phân liệt hay không.

Thuốc dùng điều trị tâm trạng trầm uất thuộc dạng khác so với các loại dược lý sử dụng để điều trị các triệu chứng loạn thần, vốn không phải là nguyên nhân gây ra trầm cảm. Với những căn bệnh như tâm thần phân liệt và rối loạn phân liệt cảm xúc, thuốc men là bước cần thiết đầu tiên, và sẽ đòi hỏi chỉ định của một bác sĩ tâm thần học.

Thích đáng nhất vẫn là bác sĩ tâm thần chuyên khoa nên tôi đã khuyến cáo bà mẹ trợ giúp và động viên con gái mình hẹn gặp một bác sĩ tâm thần. Nếu cô ấy được chẩn đoán bởi một chuyên gia tâm thần thì ông bác sĩ này sẽ đưa ra các chỉ định hoặc đề xuất phương án điều trị phù hợp. Nếu không ổn, đây là thời điểm để thử tìm cách tiếp cận khác…

Đừng ghét bỏ chỉ vì cô í thành công

Điều quan trọng trong đời một cô gái chắc là lấy chồng; nên lời khuyên sáng giá thường sẽ tập trung vào cách thức lựa chọn một hôn nhân hạnh phúc, đúng đắn.

Song làm thế nào lựa chọn hết sức cẩn thận khi mà người ta đang trong giai đoạn phải lòng (“rơi ngã vào tình yêu”) đây?

Bởi trái tim muốn những gì nó muốn thôi, ngay cả khi điều nó muốn mang tên tân dược “Prozac”.

Làm thế nào tôi lựa chọn tình yêu trên nền tảng các mối quan tâm về nghề nghiệp, hoặc logic là ở chỗ bộ xương zombie vật vờ vô hồn có thể yêu bất kỳ ai nhất trí làm một nửa các chuyện vặt vãnh, rị mọ trong nhà?

Người duy nhất có thể kéo thoát khỏi hiện tình nêu trên chỉ có thể là một nhân cách bệnh lý, và chắc chắn, mình có thể thành công trong đời, song giá phải trả là gì? Mình sành sõi, giỏi giang vụ gì?

Điều bài báo này chẳng thèm quan tâm là hạnh phúc con người của mình, nó cơ chừng chắc chắn không đếm xỉa gì tới về cách mình quan tâm tới hạnh phúc của đối tác, nó quan tâm về vai trò mình như là người sản xuất, và thông qua nhà sản xuất là người tiêu dùng.

Có lẽ, logic rằng tôi không nên cưới ai trừ khi người đó tương thích với các mục tiêu của tôi, trừ khi, tại sao, một tiền nghiệm, là việc làm quản lý tại công ty đa quốc gia thì quan trọng hơn cuộc hôn nhân của ai đó?

Bạn nghĩ bạn đang phát hiện ra rằng tình yêu đích thực không tồn tại, rằng tất cả kiểu ấy chỉ là kiểu nói dối lãng mạn được bán bởi TV và hệ thống truyền thông, rằng cuộc sống ngoài kia không phải thế; thực chất, đúng đắn hơn, cần nhận ra rằng bạn đang được BÁN điều này.

Giờ đây, không ngừng nghỉ, bởi các chương trình truyền hình TV hiện đại, bởi các bạn bè, bố mẹ và người tình– sự lừa dối đẩy bạn tới việc nghĩ rằng bạn phát hiện ra nó liên quan đến chính đời sống riêng mình.

Hệ thống của một người phụ nữ lý tưởng là làm mẹ đơn thân, cô í có thể sinh con với tử cung và ước ao làm thử tất cả về sản phẩm/ sự tiêu thụ, cô í không có sự lựa chọn. Xin nhấn mạnh là hệ thống muốn cô í như vậy. Đó là chủ nghĩa nữ quyền.

Bất hạnh thay, và thật chính xác chỉ là trò mèo– nghe như thật điên khùng để nói rằng “đợi chờ vì một tình yêu đích thực!”– thật ức chế, kiềm nén để nói rằng việc đẩy bản thân vào công việc có thể là sự thương mại làm ăn sáng giá cho gia đình bạn, song đó là mưu mẹo, hệ thống nổi danh bởi câu hỏi đặt ra là dạng nhị phân, kiểu như thể không có các khả năng khác, không có khu vực trung gian. Hệ thống kiến tạo ra đủ để bạn chỉ có thể lựa chọn duy nhất một phía thôi. Đó là một sự ràng buộc kép cổ điển, và bạn không thể thắc mắc: toàn bộ đời mình, tất tật chỉ có mỗi hai lựa chọn vậy thôi à?

Tình yêu đang chết dần đi, hệ thống đang giết chết nó. Bức chân dung duy nhất đáng chấp nhận của một tình yêu tràn đầy là với các ma cà rồng hút máu và các tỷ phú BDSM; không phải bởi vì các đàn ông này vĩ đại mà vì chẳng phải lo lắng đâu rồi bạn sẽ gặp một người, vui hưởng lạc thú huyễn tưởng nho nhỏ của riêng mình.

Nào, bây giờ quay lại công việc và bạn cần đòi hỏi sự toàn mãn.

Trạng thái loạn thần dưới cái nhìn của Tâm lý học (3)

[Tiếp tục]

Có thể nói rằng, người mắc loạn thần gặp vấn đề hoạt động của thùy não trước trán bị hạn chế.

Từ đây làm nảy sinh câu hỏi: “Liệu loạn thần là nguyên nhân hay hậu quả của hoạt động bị hạn chế của thùy não trước trán?” Có lẽ, câu trả lời là cả hai. Cá nhân mắc loạn thần đặc trưng có lý trí tự thân: “Tôi nghe tiếng nói ở trong đầu. Điều này nghĩa là có ai đó hoặc điều gì đó đang nói trong đầu của tôi.”

Dù khoa học dạy chúng ta rằng không được định kiến về trải nghiệm thể lý và tâm trí bằng cách loại trừ nét khác biệt trên bề mặt giá trị của nó, song loạn thần, bao gồm ảo giác và hoang tưởng, thể hiện của nhiều cá nhân mắc loạn thần cho thấy không thể có ý thức thích đáng, hoặc khó mà am hiểu rốt ráo đầy lý trí.

Năm 1929, Freud tuyên bố: “Cảm nhận về cái tôi hiện tại chỉ là phần dư còn lại của một cái gì rộng lớn hơn– thực sự gộp vào tất cả– cảm nhận tương ứng với một mối dây liên kết thân thiết hơn giữa cái tôi (ego) và thế giới xung quanh.

Trong phạm vi thuộc phẩm chất niềm tin trị liệu, một trải nghiệm thông qua quan hệ với một vị thần, tôn giáo biểu đạt mối liên kết với một vị thần có thể biểu đạt một sự diễn lại trạng thái nguyên thủy đến độ nó tái tạo mối kết nối cộng sinh  mà ý nghĩa báo trước mối quan hệ với đối tượng bà mẹ.

Sự đồ vật hóa (reification) của một mối quan hệ dễ được xem là mục tiêu của mối đồng minh mang tính trị liệu. Tuy vậy, một sự kết nối như thế với nhà trị liệu trong đời sống trưởng thành của một người không phải là sự tái tạo của mối kết nối với Thượng đế, hoặc đối tượng bà mẹ, hoặc bất kỳ một nhân vật mang tính biểu tượng cơ bản nào khác từng được xây dựng trong thuở thiếu thời hoặc tâm trí vô thức.

Người trưởng thành không phải là nguyên khởi bất chấp cái ấy (id) đang bị che lấp. Người trưởng thành sở hữu cái tôi (ego) và một lương năng (conscience) được thiết lập như lẽ phải và cảm nhận về bổn phận đạo đức. Vì các lý do đó, mối quan hệ giữa thân chủ (client) và nhà trị liệu của anh ta (therapist) không đòi hỏi phải kết nối với tôn giáo hoặc tình mẫu tử, cộng sinhvà thân mật quá mức, hoặc một sự cảm nhận hồi quang tất tật nhằm đạt được hiệu quả. Thực tế cho thấy nhu cầu này có thể làm trục trặc chức năng và phản trị liệu.

Phẩm chất bản năng đi kèm với các ảo giác, tuy vậy, trong một vài thực tại có thể được các nhà trị liệu và lâm sàng không loạn thần xem như là trải nghiệm loạn thần.

Cá nhân mắc loạn thần không thể biết lý trí với các ảo giác. Anh ta không thể làm hiện lên trong mình sự đồng cảm, thấu cảm hoặc tội nghiệp. Anh ta không thể vượt thoát khỏi khu vực trong đó chúng trú ngụ, bất kể những ảo giác của người mắc loạn thần xảy đến tại lãnh địa thể xác hoặc tâm trí.

Hơn nữa, như một sự lặp lại định tĩnh và đáng giá, trải nghiệm loạn thần có thể xảy đến như một hiện tượng mà tự thân sự biểu đạt trên mức độ của trải nghiệm bên trong tâm thần đã không thể chịu đựng và chấp nhận nổi trong sự được tri nhận như tính thân mật nội tâm thần.

Các thực tại không thường được đề cập bởi các nhà trị liệu và lâm sàng không loạn thần  thuộc địa hạt của những tưởng tượng, và sự tưởng tượng có thể chỉ là phương tiện duy nhất mà các nhà cá nhân không mắc loạn thần cơ chừng dễ thấu cảm với đối tượng mắc loạn thần.

Các cá nhân mắc loạn thần sống với các trải nghiệm sinh động mà hầu hết thiên hạ có thể thấu hiểu nổi, và nếu người không mắc loạn thần nhận ra sự kiện này, điều ấy có thể giúp cho các cá nhân mắc loạn thần hiểu biết tốt hơn trải nghiệm loạn thần.

Tâm lý trị liệu trong truyền thống nhân loại có thể trợ giúp cho các cá nhân mắc loạn thần, đặc biệt với năng lực truyền đạt sự thấu cảm bởi nhà lâm sàng không loạn thần đối với trạng thái cảm xúc của cá nhân người mắc loạn thần, là kết quả của trạng thái ý thức của anh ta. Trạng thái ý thức này có thể được nhà lâm sàng tri nhận đầy thấu cảm mà không hề tán thành, đối với thế giới quan của cá nhân mắc loạn thần.

Trải nghiệm của cá nhân mắc loạn thần có thể cần được chấp nhận trước tiên, thứ đến là thấu hiểu, rồi sự thử thách sau rốt, nếu đây là điều khả thể của các nhà lâm sàng khi làm việc với người mắc loạn thần.

Cách trị liệu đáng tin cậy nhất cho loạn thần vẫn là dược lý, và hiệu quả của cách điều trị này phải được xem xét hài hòa với thực nghiệm khéo léo trong việc phát hiện thuốc men đúng đắn, hoặc nối kết thuốc men với đặc tính sinh hóa thuộc cá nhân người mắc loạn thần.

Lý thú là, với hầu hết giai đoạn trong đời, các thuốc chống loạn thần (antipsychotic medications) được gọi bằng cụm từ “các loại áo bao bọc trực tiếp tâm thần” song gần đây, các thuốc thế hệ không theo truyền thống mới hơn có năng lực để “tổ chức tâm trí”.

Cũng đáng nói, các cá nhân mắc loạn thần như thế có điểm số xấp xỉ 10. trở lên trong thang điểm IQ tổng quát khi học sử dụng thuốc chống loạn thần thể hiện mới hơn, đối lập với điểm số của những người tham gia thực nghiệm không dùng thuốc.

Trong khi điều này có thể tiếp tục cổ vũ cho việc điều trị người mắc loạn thần thì vấn đề loạn thần vẫn còn là điều vô cùng khó khăn để gỡ bỏ, mà dường như chính là đang cần gỡ bỏ dần tâm trí loạn thần.