Mình gặp nhau bao lâu thì vừa?


Lượn lờ
Lượn quanh với đời

Theo thông lệ, hàng tháng mọi người ghé quán chay hai lần, hoặc đông lắm thì bốn lần. Thường vốn ăn mặn, giờ ghé hàng chay hẳn luôn vì lý do khá đặc biệt nào đó từ chuyện kiêng khem giữ giới, muốn thành tựu lời khấn nguyện, bất chợt đổi khẩu vị, tò mò hay gặp bữa thì thoải mái thuận theo bạn bè, đồng nghiệp…

‘Tôi nên tham gia trị liệu bao nhiêu buổi thì vừa?”

Câu hỏi í một thời dễ được xử lý theo hướng đưa ra con số cụ thể, kiểu từng tuần thì hay hơn là vài tuần/ lần chẳng hạn; vì mối quan tâm thoáng qua chủ yếu liên quan tới chi phí và thời gian. Trải nghiệm dần, chuyên sâu rồi tiếp xúc lâm sàng phong phú thì ngày càng thấm hơn tính độc sáng, rất riêng biệt ở mỗi thân chủ lẫn nhu cầu của chính chúng ta.

Nhìn chung, gặp nhiều thì thường giúp các chất liệu vô thức nhanh được trồi lên rồi nhận diện sắc sảo. Mình tình cờ ngồi cùng bàn chắc khác hẳn việc đấy là quán hàng tháng hay ghé. Nếu du lịch với bạn thì chuyện nhỏ nhặt cũng có thể thành đề tài cãi cọ; năm thì mười họa, tựu trường hoặc hội ngộ đồng hương thì hiếm khi bất mãn. Tần suất làm các cảm xúc hợp trội đủ giúp mình có thể làm việc… Gặp ai nhiều thì mức hiểu biết lẫn nhau tăng cao, mối gắn bó thêm chặt chẽ; chúng ta xây dựng niềm tin tưởng, và rồi hiểu biết, thấu tỏ. Song đừng quên nói về tần suất thế là phác thảo đại khái vậy, mỗi người có hệ thống thần kinh để xác lập kích cỡ thời gian…

Ý nghĩa cho với thân chủ và với nhà trị liệu;  cơ hội cùng thảo luận và trao đổi, cả hai quyết thời gian thân chủ đến.

Điều ấy sát hợp với trị liệu, và nó cũng kết nối với các kiểu dạng công việc. Học hỏi rồi trưởng thành là một tiến trình. Ta hay tự nhiên thoát khỏi, né tránh những gì khó nhằn và lạ lùng thay, ta bị mê hoặc mãi thôi theo các cách mà chính mình tự thuyết phục bản thân rằng mình không nên làm thế.

Tâm lý trị liệu mang tính thực hành. Và giống mọi phương thức đòi hỏi tương tự, nó chứa thể lý, cảm xúc, tâm linh; bất kỳ thực hành nào xứng đáng tốt nhất với bản thân.

Và điều tốt nhất là khi bản thân ở một mình. Một số thân chủ tới trị liệu một phiên duy nhất, và họ ổn; một số theo đuổi hàng năm trời.  Quyết định tần suất với nhà trị liệu vì thế, là công việc; đến với cái tôi và biết điều gì đó xảy đến ở chốn đó, đáng giá thời gian cùng chi phí bỏ ra…

Cùng nhau chung đụng phận này

Kêu gọi ‘đừng thương người’ không những bất nhẫn mà còn đích thị thể hiện thái độ đáp ứng thiếu trách nhiệm cũng như ít nhiều xiển dương cho lựa chọn vô cảm: chối bỏ nhu cầu yêu thương của chính mình và của những người xung quanh. Cần thể hiện đúng đắn và thấm lòng từ bi đối với người ăn xin, vì ‘ăn mày là ai; ăn mày là ta… đói cơm rách áo hóa ra ăn mày”.

Tùy hoàn cảnh sống và trải nghiệm cá nhân, đa phần chúng ta ái ngại, thường né tránh một số đối tượng nào đó chí ít vì bản thân cảm thấy tuyệt vọng hoặc chẳng biết phải làm gì mới phải. Trong tâm trạng chân thật, đều khá dễ nảy sinh cảm giác không thoải mái lắm khi đối diện, nhìn thấy và/ hoặc ứng xử với người ăn xin.

Gọi ai đó là ‘ăn xin’ để trỏ người xin tiền hoặc thức ăn nhằm đảm bảo nhu cầu sống còn. Trong các thành phố lớn, ở nơi công cộng, người ăn xin thường sống vạ vật đầu đường xó chợ, góc phố, trước cửa nhà đóng chặt về đêm.

Thực tế, dù biết họ thật đáng xót thương, song chúng ta lại không biết cách tốt nhất để thể hiện lòng từ bi sâu xa trước cảnh ngộ của đồng loại. Chúng ta nên đối xử như nào đối với người ăn xin và những ai trải qua đời sống lang thang, không chốn nương thân?

Dưới đây là vài ba chỉ dẫn cơ bản mong được lưu tâm.

1. Chào hỏi

Tuy khó thừa nhận song sự thật là hầu hết chúng ta thậm chí không nhìn người ăn xin như một con người. Chúng ta đã bị điều kiện hóa về thái độ thiếu tôn trọng và chẳng thèm quan tâm tới người ăn xin tình cờ bắt gặp đến độ mà các chất hóa sinh trong não bộ chúng ta không hề đáp ứng với họ như một con người đích thực.

Đây đó, bạo lực hướng tới người ăn xin và kẻ vô gia cư tiếp tục âm thầm gia tăng. Sau khi đã đặt câu hỏi chất vấn bản thân với thái độ khiêm cung một cách nghiêm trang thì thử tiếp xúc mắt đơn giản rồi mỉm cười với một người đang vạ vật trên đường. Nhờ nỗ lực tiến hành cử chỉ thân thiện như thế, chúng ta sẽ nhận ra rằng lý do để lòng mình nảy sinh cảm giác khó chịu lúc bắt gặp người ăn xin và kẻ vô gia cư là vì họ nhắc nhở chúng ta về những đặc quyền và lắm thứ lợi lạc mình đang được thụ hưởng. Mình không phải ngủ ngoài đường, không phải ngửa tay xin tiền ai đó để mua được bữa ăn ấm bụng.

Vấn đề là đặc ân mình được thụ hưởng không quan trọng hơn nhân tính ở người ăn xin. Nhìn vào mắt họ, gật đầu chào, mỉm cười ý nhị, chúc một ngày may mắn và làm bất kỳ điều chi đối với một đồng loại.

2. Trao tặng (nếu mình có thể)

Người ta đi ăn xin vì có lý do. Bất luận họ đã hành xử ra sao trước đây, hiện tại họ không đáp ứng nổi các nhu cầu sống căn bản như ăn, mặc, chỗ ngủ…

Trong khi truyền thông đưa tin về một số câu chuyện giả danh, lợi dụng lòng tốt để trục lợi cá nhân, thậm chí hình thành cả ‘công nghệ ăn mày’ thì đấy chỉ là mảng xám không đại diện cho đa số người đang chịu đựng bệnh tật, đói rét ở ngoài kia, trên đường phố. Đừng để một thiểu số kẻ dối trá lừa bịp ngăn chặn chúng ta trao tặng biểu hiện thương yêu cho rất nhiều người đang rất cần trợ giúp hàng ngày.

Nhiều người ngần ngại cho tiền vì sợ người ăn xin sẽ dùng vào việc ăn chơi, hút chích, bài bạc,… Nỗi sợ ấy là thái quá vì theo một nghiên cứu công bố tại San Francisco (Hoa Kỳ) vào tháng 3.2013, 94% người được hỏi cho biết họ dùng số tiền xin được cho việc mua thức ăn; chưa tới một nửa số người được hỏi tiêu vào ma túy hoặc rượu bia. Khi trao tiền hoặc thức ăn trực tiếp cho những người này, chúng ta đang trao quyền cho họ để đưa ra lựa chọn, và mình phải tin tưởng rằng tự họ đưa ra được lựa chọn tốt nhất trong hoàn cảnh sống khốn cùng như thế.

Có rất nhiều nhu yếu phẩm và dịch vụ khác mà người ăn xin và kẻ vô gia cư cần đến, dù các tổ chức và cơ quan chức năng đã trợ giúp không ít. Nếu mình vẫn không muốn cho tiền thì thử hỏi trực tiếp họ cần gì để xem mình có thể đáp ứng được không…

3. Dấn thân hoạt động từ thiện

Vậy là mình đã vượt qua não trạng hạ thấp nhân phẩm con người, và cũng đem lại cho một số người cảm giác được an ủi và no ấm trong ngắn hạn. Vậy làm sao dấn bước sâu xa hơn nữa?

Làm từ thiện. Tham gia các tổ chức ở ngay địa phương đang sinh sống để ngăn chặn và làm tiêu trừ hiện tượng ăn xin là cách thể hiện lớn lao cả cho cộng đồng nói chung cũng như với bản thân người ăn xin. Hỏi các tổ chức khi nào và điều họ cần; vận dụng tài nghệ xoay sở và kỹ năng riêng có của bản thân để trợ giúp các tổ chức này. Với từng vị trí và công việc, hãy tham gia giáo dục cộng đồng về các nguyên nhân dẫn đến ăn xin cũng như không ngừng nỗ lực tìm kiếm các giải pháp để làm trong sạch và lành mạnh hóa môi trường xã hội.

… Đọc loat bài cùng chủ đề lòng lại tự nhủ lòng: tay nâng bát cơm, nhớ công của bao người sẻ chia, giúp đỡ không ngừng để cho mình cơ hội sống qua cơn khốn khó mỗi ngày. Và vì muốn thành đạo nghiệp nên mới thọ nhận thức ăn này.

Những biểu hiện khó ngờ của trạng thái trầm cảm (2)

Khi thuốc chống trầm cảm lại là nguyên nhân gây trầm cảm thì tỉnh thức (mindfulness) càng nên được dùng như một liệu pháp để làm giảm các triệu chứng liên quan ở môi trường học đường.

Tiếp theo sự khơi mào cơn tức giận hôm nọ, giờ chúng ta thử xem xét thế hệ trẻ ngày nay có thể học hỏi được gì từ rối loạn khá quen thuộc này.

Tôi muốn theo sát chủ đề vừa nêu bởi mới đây, một cậu bạn trẻ làm trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật bất chợt thổ lộ rằng chắc chàng ta cần uống thuốc trầm cảm mất thôi (antidepressant).

Song trước khi bàn đến thuốc, liệu có ai dám quả quyết là tinh thần lạc quan sẽ phá hủy tất cả chúng ta. Dĩ nhiên, trả lời ngắn gọn một cách nghiêm túc: không.

Chẳng phải chờ đến sáng nay để đọc bài trên NYT; suy nghĩ tích cực, như chỉ trích cho thấy, kế thừa lịch sử dài lâu, đặc biệt ở Hoa Kỳ. Tại sao nó dễ khiến chúng ta phải lòng nhanh chóng quá vậy? Đơn giản vì chúng ta quá hạnh phúc (đất nước của những người bán trà đá vỉa hè cũng thừa tiền sắm Iphone 6) nên vì rứa, cả tin và bị lừa chăng? Tất cả các dạng kiểu ‘khoa học’ (trăm hoa đua nở hội thảo và chuyên đề, khóa học nọ kia) cùng tâm lý học đang không ngừng kể câu chuyện chúng ta háo hức muốn biết tường tận: hạnh phúc là điều tốt lành (hic, dính dáng vào khiến tôi cảm thấy bản thân thật tội lỗi).

Đạo Phật đã thành công dưới thương hiệu ‘tâm lý học tích cực’; theo lối nhìn thế thì lại rất thích hợp với những trào lưu phát triển hiện đại trong đạo Chúa như phái tả Phúc Âm (evangelist) chẳng hạn. Về mặt lịch sử, Công giáo (Christianity) thường được nhìn nhận là thuộc tâm lý cực kỳ tiêu cực, dựa trên việc quy rút cá nhân thành con sâu cái kiến bé nhỏ qua cái nhìn của đức Chúa nên nó dễ được hưởng hồng ân quan phòng che chở của đấng Christ, hoặc sát gần hơn, Nhà Thờ; cơ chừng đạo Chúa hiện đại đa phần từ bỏ các cách thức đun sôi sùng sục và ám ảnh bởi tội lỗi trong quá khứ. Song các dịch vụ happy-clappy của những tân Phúc Âm không hề khởi từ truyền thống cổ đại, chẳng xa hơn hậu Thanh giáo (Puritan) Hoa Kỳ.

Cần biết thêm chút, đạo Phật bảo con người ta chịu trách nhiệm với niềm đau nỗi khổ của chính họ. Tại sao lo lắng về các điều kiện xã hội, nghèo đói, hoặc phân biệt đối xử… Điều này trái ngược với sự nhấn mạnh tới lòng từ bi (compassion) trong đạo Phật hiện đại, dù chúng ta không thể phủ nhận rằng các lực lượng mang tính ái kỷ ‘tôi và hạnh phúc của tôi’ hiện đang tồn còn và đầy quyền năng. Đúng ra, đạo Phật đích thực thì gây ấn tượng về sự cân bằng; vì mỗi tích cực có một tiêu cực…

Hễ khi nào chúng ta lý tưởng hóa hạnh phúc, chúng ta giận ghét một con người buồn bã. Vâng, các bản văn thiền định Phật giáo không những hay trình bày về hạnh phúc mà chúng còn biểu tỏ ‘trầm cảm tâm linh’ (một ví dụ so sánh) khởi lên khi lặng ngắm Pháp (dhamma) diệu kỳ mà người ta chưa từng đạt được.

Với những ai cảm thấy lạc lõng và bơ vơ trong biển cả đầy ắp các khuôn mặt cười, có rất nhiều các bản kinh làm mình phiền muộn để mà giải khuây. Và nghệ thuật đủ sức khiến ta chùng xuống và thoát khỏi các cảm xúc hạnh phúc giả tạo ghê gớm; thời buổi internet ngày nay đâu khó tìm thấy các minh họa về một bài hát quá chừng buồn luôn, một truyện ngắn đau thương, hoặc một bộ phim làm ta khóc ngất… Và nếu chưa xứng, luôn có các chương trình phim kinh dị trên TV với bản tin thời sự ‘cướp- giết- hiếp’ hàng ngày.

… Giờ chính thức chạm tới đề tài thuốc men và sự giải trí.

Để cảm thấy tốt hơn, uống một viên thuốc đi nhé.

Đó đích thị là thứ logic ẩn bên dưới việc dùng thuốc men phục vụ cho việc giải trí, tiêu khiển, đỡ đau đầu; và nó cũng là logic sát đúng với cả y khoa hiện đại.

Điểm khác biệt ở chỗ, nếu một người quyết định ý chí để uống thuốc, hoặc hút điếu, hoặc tiêm gì đó. v.v… để bản thân thấy vui vẻ thì rõ là họ biến mình thành tội đồ hư hỏng đáng bị trừng phạt (?!)… Dĩ nhiên, không phải không có khác biệt nào giữa y khoa và việc dùng thuốc cho mục đích giải trí; chắc chắn có, và chắc chắn ở đó hiện diện vai trò của các chuyên gia sức khỏe. Vấn đề là các điểm khác biệt ấy thuộc phổ dài rộng của việc sử dụng, và tần suất bao gồm các tiền chất giống nhau, rồi chưa nói các cấu trúc hợp pháp đương đại tạo nên cuộc ly dị giả vờ giữa chúng nữa cơ.

Lần nữa, về mặt lịch sử, hầu hết các loại thuốc mang tính giải khuây đều có ứng dụng y khoa theo kèm: thuốc phiện, cần sa, LSD,..; tương tự, nhiều thuốc y khoa theo toa vẫn quen dùng cho mục tiêu thông thường, bất kể được phép hay dùng lậu.

Vấn đề căn cốt hơn: việc tạo tác một thời đại hữu hiệu của uy quyền, thiết chế y khoa kiến lập một thứ văn hóa khiến người ta nồng nhiệt tin tưởng rằng uống thuốc là giải pháp cho vấn đề, và nó dẫn tới vui vẻ, hạnh phúc. Nếu đúng thế, y khoa hiện đại quy về lỗi trực tiếp lẫn gián tiếp: tạo nên quá nhiều thuốc có khả năng gây nghiện và điều kiện hóa về mặt xã hội cho việc kiếm tìm giải pháp nhờ thuốc men.

Đáp ứng hữu lý, cả sức khỏe thể chất lẫn tâm lý, là chuyển khỏi cách tiếp cận lấy thuốc men làm trọng tâm để bước sang cái nhìn tổng thể, toàn diện. Trị liệu cả con người, chứ không chỉ nhắm vào bệnh tật. Cách tiếp cận này đặc biệt thích hợp trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần, nơi các liệu pháp dựa vào tỉnh thức (mindfulness-based) được chứng thực là mang lại hiệu quả hơn thuốc men trong việc xử lý hàng loạt vấn đề, gồm cả rối loạn trầm cảm.

Lợi lạc của công tác tiếp thị trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần

Sự thật khá kỳ cục, các rào cản lớn nhất để làm cho việc marketing trở nên thiếu hữu hiệu đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần tư nhân thực tế lại không dính dáng nhiều đến tự thân chuyện tiếp thị, hoặc chẳng liên quan bao nhiêu với việc cạnh tranh cả.

 Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần, trở ngại lớn nhất e chừng khởi đi bởi các viễn tượng nảy sinh bên trong lòng cá nhân người hành nghề, do các giả định và thành kiến sẵn có của họ. Chí ít phảng phất hai chuyện:
  • các vấn đề thực tế, liên quan đến chuyện thật ở đời
  • các vấn đề triết lý, liên quan đến chuyện gì được cho là ‘đúng đắn’

Các vấn đề thực tế thì dễ làm rõ bởi vì chúng phụ thuộc vào cách cuộc đời vốn đích thị như nào. Các vấn đề triết lý thì thú vị hơn và phụ thuộc vào quan điểm cá nhân người ta, nghề nghiệp và đời sống của chính họ.

Một ví dụ cho vấn đề thực tế là không ít người tin rằng (đúng hoặc sai) là cơ quan, văn phòng, trung tâm chuyên nghiệp đáng kính của họ cấm bất kỳ hoạt động marketing hoặc quảng cáo nào. Không thực sự có cuộc tranh luận gì với loại vấn đề này. Đó thuần là chuyện kiểm nghiệm để biết thật, giả ra sao: chính xác thì chính sách của các đơn vị là gì? Ngay cả thế, nếu mình tin mình bị ngăn cấm không được làm điều gì đó thì bản thân sẽ ít thích thú tiến hành gì vụ đó.

Ví dụ không hoàn toàn là vấn đề đơn giản song vẫn khá sát hợp với sự tinh tế có tính triết học hoặc dính dáng tới tầm nhìn cá nhân ở đời: một số người cho rằng marketing là tương tự với quảng cáo. Nếu nghĩ vậy thì cũng hay vì chứng tỏ công ty của mình tốt. Thực tế không khó đoán, nhiều tài liệu bìa ngoài là về marketing song trong ruột đầy tràn các lời khuyên về quảng cáo. Kỳ thực, quảng cáo chỉ là một phần của marketing, phần rất đặc biệt về các cách thức truyền đi một thông điệp marketing cụ thể, thường nhắm tới khách hàng tiềm năng của sản phẩm hoặc dịch vụ. Bắt chước kiểu nói của dân marketing, đó là phần từ trong ra ngoài (inside-out), tức lan truyền thông tin, hơn là phần từ ngoài vào trong (outside-in), tức lắng nghe và nắm bắt nhu cầu khách hàng rồi thích ứng để thỏa mãn họ. Ở đây, lần nữa, nếu mình vốn tin rằng marketing và quảng cáo là như nhau, mình biết (tỷ dụ thế) là mình không thích quảng cáo thì rồi mình có thể không nhất thiết được khuyên can đừng làm bất kỳ hoạt động marketing nào (!)

Từ mối quan hệ giữa các vấn đề thực tế và marketing vừa nêu, nảy sinh các câu hỏi về marketing. Hấp dẫn hơn nhiều so với hai ví dụ chán ngán bên trên, là vấn đề làm cách nào mà mình, như một cá nhân hành nghề, nhìn nhận marketing và vị trí của nó trong tập hợp các suy tư lẫn cảm xúc về công việc, về thân chủ, về đời sống rộng lớn hơn bên ngoài công việc chuyên môn, và về vai trò của bản thân trong sự chuyển đổi thương mại gồm thời gian và công sức bỏ ra để thu lại tiền bạc, lời lãi. Các vấn đề này đa phần phát sinh từ quan điểm của mình về bản thân và về chuyện đâu là con đường, cách thức đúng đắn hơn là thuộc vấn đề của thế giới thực tế thường nhật.

Khi lọ mọ tìm hiểu vấn đề marketing trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần, tôi nhận thấy đó chính là câu chuyện phản ánh vị thế độc sáng của người làm chuyên môn.

Rất thường, các vấn đề ấy gợi cả lố lo lắng khó chịu, bất định, lảng tránh, đôi lúc còn là ước muốn ‘tuyên bố quan điểm’ dứt khoát của bản thân về chiều kích thế này, thế khác… Song bất luận phản ứng ra sao, thậm chí chỉ cần khởi sự cân nhắc các vấn đề đã nêu là đã tạo nên một sự bắt đầu quan trọng hướng tới việc hiểu biết tốt hơn cách nhìn nhận thực tế không thể chối bỏ liên quan đến nghề nghiệp chuyên môn của bản thân.

Nhờ phản ánh quan điểm cá nhân về marketing và một số khái niệm liên quan cận kề mà mình có thể dần nhận ra các sức mạnh tiềm tàng trong marketing, điểm yếu chết người, và một số lĩnh vực hoặc mối quan tâm mình muốn lờ đi. Và quan trọng nhất, mình có thể vượt qua bất kỳ rào cản ngăn trở không cần thiết để marketing thành công, những rào cản có thể dựa trên điều mình không thực sự nghĩ một cách cụ thể trước đây hoặc chỉ đơn giản là do thiếu thông tin mà thôi.

Bởi việc tiếp tục kiên trì khám phá, nghi vấn, kiểm nghiệm, thử giả định, và phản ánh mà tôi tin mình có thể dần hiểu biết tốt hơn lên về người bạn đồng minh tốt nhất trong công việc marketing.

Cả thực tế lẫn lý thuyết đều chứng tỏ rằng nắm bắt cơ bản về marketing sẽ giúp mình khớp nối với những người khác (thân chủ tiềm năng, người sử dụng lao động, v.v…) về những giá trị nào mà dịch vụ của mình đem lại cho họ, và cả việc hiểu biết điều gì đó thuộc cảnh quan cạnh tranh bên trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần đặc thù mà mình thao tác.

Như thế, lợi lạc đầu tiên nhờ hiểu biết cơ bản marketing là sẽ giúp mình tiến hành hòa hợp với các nhóm khác nhau, cả khách hàng tiềm năng hoặc các nhà quản lý, ông bà chủ cơ quan, đơn vị liên quan: tại sao họ nên quan tâm, dù bé tí thôi, những gì mình có thể làm được cho họ.

Vi tế hơn chút, căn bản marketing sẽ giúp mình kết nối với các nhóm người đánh giá cao dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu của họ. Rốt ráo, không có hiểu biết về giá trị mình sẽ cung cấp, tại sao một thân chủ hoặc người quản lý nào đó phải sử dụng dịch vụ của bên mình?

Để khớp nối thông điệp giá trị này đòi hỏi:

  • hiểu biết các nhu cầu của người khác thực sự là gì,
  • cần thiết thích ứng đến độ mình có thể thỏa mãn các nhu cầu đó, và
  • giao lưu, truyền thông từ viễn tượng của họ để giá trị trong dịch vụ của mình làm sao thỏa mãn các nhu cầu họ mong muốn.

Thưc tế thì không phải vấn đề truyền thông và hiểu biết là câu chuyện dễ dàng tinh thông đối với những ai hành nghề dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần? Tuy có thể đúng thế thật, song tin xấu là không nhiều người hành nghề giỏi giang việc áp dụng trực tiếp các kỹ năng họ sở đắc trong chuyên môn vào nhiệm vụ marketing.

Rõ ràng dễ thấy là nhờ áp dụng các kỹ năng nhằm chuyển tải thông điệp giá trị trong công việc đang theo đuổi, mình sẽ sửa soạn tốt hơn để:

  • bước vào hành nghề tư nhân,
  • có nhiều thân chủ hơn trong công việc đang làm, hoặc
  • kết thúc các nghiên cứu rồi tìm ra phân khúc thị trường phù hợp với chuyên môn.

Lợi lạc thứ hai nhờ hiểu biết căn bản marketing là nó sẽ giúp mình hiểu biết bối cảnh cạnh tranh bên trong lĩnh vực chuyên ngành mình theo đuổi rồi định vị bản thân hoặc công việc phù hợp bối cảnh đó. Đây là chiến lược thị trường, nó suy cho cùng là áp dụng hiểu biết marketing cơ bản để nâng cao và hướng đích ‘giá trị đề nghị’ của bản thân, ví dụ, khớp nối giá trị mình cung cấp, đối với một lượng khách hàng lĩnh hội được và sẵn sàng chi trả cho giá trị mình cung cấp.

Rối loạn Phổ Tự kỷ (ASD): cập nhật thông tin mới nhất, thực trạng siêu phức tạp, và vài ba cách thức hỗ trợ hiệu quả

Kể từ những bài xa xưa từng giới thiệu khá chi tiết quen lệ rồi, đến nay rối loạn phổ Tự kỷ (ASD) vẫn tiếp tục được blog Tâm Ngã chọn là chủ đề ưu tiên lên trang.

Ba hôm trước, đại học Carnegie Mellon công bố đã làm rõ vai trò của tính di truyền, đột biến, và các yếu tố môi trường; theo đó, nguy cơ di truyền của ASD chủ yếu khởi phát từ các genes thông thường hơn là các biến thể hiếm gặp hoặc đột biến tự phát.

Từ nghiên cứu này, chúng ta có thể thấy rằng di truyền đóng vai trò chính trong sự phát triển rối loạn tự kỷ so với các yếu tố môi trường, góp phần quyết định gây nên tự kỷ hơn chúng ta tưởng; mỗi một trong nhiều yếu tố nguy cơ nhỏ khác thêm vào đẩy người mắc vươn ra rìa của phổ tự kỷ…  Không có các công cụ thống kê mới, không phát hiện được kết quả, và bây giờ chúng ta phải dựa trên những gì học hỏi được kèm sử dụng các cách tiếp cận thống kê để sắp đặt các nguồn lực tương lai, và quyết định hướng nghiên cứu nào hữu ích nhất đáng tiếp tục tìm kiếm nguyên nhân gây ra tự kỷ.

Như thế chứng tỏ, tự thân yếu tố môi trường không quyết định hết thảy nguyên nhân gây ra ASD; và con số 55% có thể di truyền cho thấy genes chịu trách nhiệm hơn một nửa việc một đứa trẻ có khả năng mắc tự kỷ (80% di truyền liên quan đến chiều cao).

Lần nữa, qua thượng dẫn sơ bộ, điều ngạc nhiên ở nghiên cứu là các nguy cơ di truyền gây tự kỷ đa phần nằm ở các biến thể genes thông thường chứ không phải các đột biến dị biệt. Một đột biến nhỏ trong một gene đơn lẻ có thể gây một căn bệnh chẳng hạn như Huntington, và đột biến gene BRCA1 làm tăng lên khả năng phụ nữ phát triển ung thư vú. Các đột biến như thế chỉ chiếm 2,6% nguy cơ gây tự kỷ, so với 52% biến thể genes thông thường; với phần lớn trường hợp gây mắc tự kỷ, không có một gene sai lạc nào mã hóa rối loạn này mà chính sự kết hợp các biến thể thông thường với nhau mới dự đoán nguy cơ tự kỷ. Và dù chỉ ra các yếu tố môi trường không phải là nguyên nhân chính, song nhóm tác giả không chắc cụ thể những yếu tố môi trường nào quy cho việc mắc tự kỷ.

Liên quan đến thực trạng phức tạp gây tranh cãi, bất chấp mấy thập niên nghiên cứu khẳng định điều ngược lại thì niềm tin tự kỷ có thể là do nguyên nhân trục trặc trong quan hệ gắn bó mẹ- con vẫn thịnh hành. Trước thông tin nghiên cứu rằng có mối liên quan giữa độ tuổi cao của bố mẹ với việc mắc tự kỷ khiến một số bố mẹ còn chưa thôi lo lắng quyết định có nên sinh con sau độ tuổi 30 thì công việc của nhóm nghiên cứu quốc tế do nữ khoa học gia thuộc đại học Carnegie Mellon đứng đầu giải thích chủ yếu do genes.

Sự trộn lẫn các yếu tố nguy cơ không dễ cảm nhận thấu đáo và việc chẳng rõ ràng nguyên nhân gây ASD có thể khiến một số bố mẹ lựa chọn các giải pháp liều lĩnh và cảm tính. Một ví dụ sống động kéo dài là chuyện bố mẹ quy cho hóa chất thimerosal (đã bị gỡ bỏ hơn 10 năm nay) vốn có mặt trong vacine trẻ em gây tự kỷ, tạo điều kiện cho phong trào chống tiêm phòng thành công và gây ra nguy cơ cho con cái họ mắc một số bệnh mà chúng ta đã biết cách tránh…

Với tỷ lệ 1/ 68 trẻ em Hoa Kỳ mắc ASD, trong độ tuổi 6-17 thì chẩn đoán mắc tự kỷ tăng khoảng 1% từ 2007 đến 2012. Các triệu chứng tự kỷ đa phần không hợp trội, nổi bật cho đến khi trẻ lên 2 hoặc 3 tuổi, và không phải luôn luôn dễ chẩn đoán. Nguyên nhân hiện chưa sáng tỏ hoàn toàn, sau nhiều năm nghiên cứu có thể nghĩ tới chừng mực: các biến chứng khi sinh, thuốc trừ sâu, không phải do thiếu thốn tình yêu thương, không phải vì nhiều giun sán.

Nhân tiện, xin nêu một vài nghiên cứu liên quan: trẻ có bố mẹ làm các nghề kỹ thuật mang tỷ lệ tự kỷ cao hơn; thiếu hụt kỹ năng vận động càng làm mức độ tự kỷ nghiêm trọng; suy yếu khả năng chú ý không phải là thành phần tự thân của tự kỷ; cảm giác thứ phát hay thường thấy ở người mắc tự kỷ; chết đuối là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ ASD; chụp quét não bộ có thể hỗ trợ công tác chẩn đoán; có việc làm giúp cải thiện các triệu chứng tự kỷ ở người trưởng thành; nghiên cứu DSM-5 chỉ ra tác động của việc chẩn đoán và sự phổ biến ASD, v.v…

Chẳng nhất thiết phải nghi ngờ một điều rằng, tự kỷ thực sự khó hiểu đối với những ai không trải nghiệm trực tiếp. Với hầu hết mọi người, tự kỷ cơ chừng là ai đó lạ kỳ, cách biệt và khuyết tật tinh thần; các tường rào ngăn cách trong đời sống người mắc tự kỷ có vẻ là khó hiểu thấu; những trở ngại và thách thức họ phải đương đầu là thực tế lạnh lùng, một thực tế của ai đó khác. Con số 1/68 trẻ em mắc ASD cho thấy hầu hết mọi người dễ bắt gặp, nghe thấy hoặc tiếp xúc khá gần gũi với ai đó mắc tự kỷ; tiếc thay, phải chờ cho đến khi tự mình trải nghiệm cá nhân trực tiếp những con người ấy độc đáo và đặc biệt như thế nào thì mới phần nào nắm bắt câu chuyện.

So với ASD, ngu dốt mới đích thị là căn bệnh lớn nhất trong xã hội. Bố mẹ các trẻ mắc tự kỷ chắc chắn trải nghiệm sống động khía cạnh với người xung quanh họ; một khía cạnh tồn tại ở nhiều người song nó chỉ bộc lộ ra khi bị thách thức bởi điều gì đó khác thường, như kiểu giao tiếp với người mắc tự kỷ. Đó không phải là tội ác, chỉ là ngu dốt mà thôi.

Có rất nhiều vấn đề xoay quanh ASD. Một đứa trẻ mắc tự kỷ ảnh hưởng đến mỗi thành viên trong gia đình theo các cách thức khác nhau. Bố mẹ/ người chăm sóc giờ đây phải đặt để ưu tiên chú tâm trong việc trợ giúp con em họ, xử lý stress nảy sinh ngày càng mãnh liệt trong đời sống hôn nhân, ở các đứa con khác, công việc, tài chính, và các trách nhiệm lẫn quan hệ liên nhân cách khác nữa. Bố mẹ có con mắc tự kỷ phải chuyển khá nhiều nguồn lực thời gian và tiền bạc cho việc cung cấp phương thức điều trị và can thiệp cho đứa trẻ, hạ thấp các ưu tiên cấp bách khác.

Bố mẹ trẻ thường quen đối mặt với các thái độ và dịch vụ bất công trong xã hội. Họ bị thúc ép đương đầu và giải quyết với sự ngu dốt. Vượt trên việc xử lý các vấn đề sự vụ đời thường, hàng ngày liên quan đến tình trạng rối loạn của con em mình, họ cũng buộc phải trở thành người biện hộ và đấu tranh, các chuyên gia y tế cung cấp thông tin chính xác cho cộng đồng họ thường tiếp xúc, bởi vì định hình các chương trình can thiệp sớm thích đáng, độ an toàn và phù hợp trong chẩn đoán cũng như tự thân việc trị liệu và chăm chữa y tế tương xứng dĩ nhiên không phải là điều dễ dàng chút nào ở một đất nước đang phát triển bộn bề như Việt Nam.

Các cơn thịnh nộ, đập phá từ nhẹ tới nặng, khó khăn trong ăn uống, đủ thứ rắc rối với việc ngủ nghỉ, nhiều giới hạn bó buộc của tiến trình xã hội hóa và tương tác với những người khác, đi kèm lắm thiếu hụt xử lý cảm giác và lượng giá môi trường… chỉ là một vài vấn đề mà trẻ em cũng như người lớn mắc ASD phải đối phó thường xuyên.

Điều quan trọng hiểu tự kỷ là trạng thái rối loạn phổ rộng, nghĩa là các cá nhân sẽ thể hiện nhiều triệu chứng khác biệt nhau, một số thì nhẹ và một số thì nặng, số khác vừa vừa… Tương tự, cơ bản là bóc trần huyền thoại người mắc tự kỷ không có khả năng biểu đạt các cảm xúc bản thân hoặc cảm nhận về tình yêu thương, nỗi niềm hạnh phúc, buồn rầu, đau đớn như mọi người khác. Đơn giản vì họ không thể biểu đạt các cảm xúc bản thân theo cách của đa phần mọi người, không có nghĩa họ không có cảm xúc. Đây là sự ngu dốt và thiếu giáo dục chu đáo khiến thiên hạ tiếp tục mang vác huyền thoại vừa nêu.

Nếu nói với bố mẹ của trẻ mắc tự kỷ, mình sẽ thường nghe thấy các câu chuyện dũng cảm không thể ngờ nổi, sự kiên nhẫn vô bờ bến, những nỗ lực khủng khiếp và nỗi buồn bã, tuyệt vọng trong những ngày đen tối luôn ít nhiều phảng phất trên khuôn mặt. Mình cũng có thể nghe thấy các câu chuyện về tình yêu thương vô điều kiện, sự trân trọng đời sống, hành trình khám phá bản ngã mà họ không hề nuối tiếc dấn thân cũng như không lãng quên ước mơ, hy vọng về một tương lai tươi sáng cho con cái.

Người mắc ASD cũng là nhân loại chúng mình. Mỗi người thì khác nhau và ai cũng độc đáo. Điều họ cần chí ít là đừng ai đánh giá, xa lánh, đối xử bất công và thể hiện sự ngu dốt hướng về họ. Những gì họ cần là tình yêu, xử sự công bằng, tôn trọng, thấu hiểu và đủ đầy ý thức để xã hội nâng cao hơn nữa khả năng trợ giúp, nâng đỡ họ cùng với gia đình họ nhiều hơn nữa. Họ cần nhiều phương thức trị liệu đúng đắn và hiệu quả, tiếp cận được, chẩn đoán và can thiệp sớm, và nhiều nghiên cứu cũng như ủng hộ quỹ, vận động chính sách, tài trợ nhiều hơn nữa.

Bố mẹ cũng cần giúp đỡ với nhiều chi phí phải trả, các chương trình phù hợp giúp con em họ có việc làm, nơi học tập, được hỗ trợ cảm xúc và tâm lý, hội thảo và giáo dục đặc biệt đặng giải quyết nhiều vấn đề nảy sinh với trẻ mắc tự kỷ. Chúng ta cần mở rộng các mạng lưới, cộng đồng khuyết tật phủ khắp và tạo điều kiện để các gia đình có cơ hội tương tác với nhau, trao đổi thông tin, ý kiến, tiếp cận được ngày càng nhiều dịch vụ và nhiều hỗ trợ từ phía nhà trường cũng như xã hội.

Dưới đây là vài bước khuyến cáo cụ thể từ giới chuyên môn mong có thể trợ giúp cho người mắc ASD.

1. Giải thích từng giai đoạn một những gì mình định làm, những gì sẽ xảy đến tiếp theo và tại sao.

2. Cho người mắc ASD đủ thời gian để hiểu thông tin mình đang chia sẻ và đợi đáp ứng chứ đừng vội vàng, mong ngóng.

3. Các câu hỏi nên được đặt ra thật dễ hiểu theo cách sử dụng ngôn ngữ trực tiếp, dùng tranh ảnh khi cần thiết; đừng phụ thuộc vào việc trẻ làm quen, nắm bắt được tình cờ nghĩa của các câu hỏi nêu ra hoặc ngôn ngữ cơ thể.

4. Người mắc tự kỷ dễ nghiêng theo hướng nắm lấy lời mình nói theo nghĩa đen nên cần tránh dùng từ ngữ mang nghĩa nước đôi và thể hiện tính hài hước rất dễ bị hiểu nhầm.

5. Duy trì công việc và thói quen hàng ngày; tương tự là điều quan trọng đối với người mắc tự kỷ.

6. Các khó khăn trong giao tiếp xã hội có thể bao gồm việc tiếp xúc mắt, các ngôn ngữ cơ thể bất thường, nói chuyện vào những lúc bất tiện hoặc nói về các chủ đề không thích hợp lắm.

7. Các hành vi lặp đi lặp lại có thể là cơ chế đối phó, và đo đó nên được tôn trọng.

8. Mội trường rất quan trọng. Một số người mắc tự kỷ đặc biệt nhạy cảm với ánh sáng, chuyển động, tiếng ồn và sự sờ chạm. Cố gắng thiết lập môi trường yên an, tĩnh lặng để giúp bình hòa nỗi lo lắng, sợ hãi.

9. Luôn luôn thử đặt mình ứng xử, hành động như người mắc tự kỷ dù đó quả là thách thức ghê gớm.

10. Hỏi người mắc tự kỷ, bố mẹ, người chăm sóc hoặc vị giám hộ họ những gì họ cần.

@ Cập nhật, 15h42′ cùng ngày

Phương thức dạy nhận thức về Tự kỷ giúp giáo viên đảm bảo tất cả học sinh trong lớp đều hiểu được rối loạn và giúp đỡ trực tiếp bạn mắc ASD; nâng cao nhận thức về những nhu cầu và khó khăn mà người mắc Tự kỷ gặp phải, giải thích ASD là gì, và tại sao nó ảnh hưởng các kỹ năng truyền thông, xã hội và tư duy.

Hướng dẫn nhấn mạnh không những nhu cầu của cách tiếp cận cá nhân khi làm việc với học sinh mắc ASD mà còn bao gồm một số chiến lược “nắm trọn” như cách bắt đầu bài học với các hoạt động ngắn, vui và thực tế nhằm giúp có được cấu trúc ngay lập tức rồi đề cao các điểm tưởng thưởng để chào đón trẻ. Khẳng định những thay đổi trong môi trường lớp học là giảm tiếng ồn xung quanh, sử dụng ánh sáng tự nhiên và tránh các tranh, ảnh gây ‘bắt mắt’.

Ý tưởng cho ngân hàng chiến lược làm việc với trẻ mắc ASD là đi theo các quy định rất rõ ràng ở lớp học, hỗ trợ việc trình bày miệng với bảng biểu, sơ đồ, tranh ảnh, xác lập nhiệm vụ với các mục tiêu rõ ràng, và hướng dẫn ngắn, đơn giản.

Một vài mẹo thực hành cho giáo viên như khung làm việc SPELL: nhắm vào cấu trúc (structure), hành vi tích cực (positive behavioir), thấu cảm (empathy), ít gây kích thích (low arousal), và liên kết (link) với nhiệm vụ ở nhà. Mục tiêu là giảm bất kỳ trải nghiệm lo lắng nào ở trẻ, để chúng làm việc hiệu quả hơn trong một môi trường khiến chúng cảm thấy an toàn.

Nhằm giúp giáo viên giảm thiểu nguy cơ trẻ bị bắt nạt, hướng dẫn nhắm vào “tính đa dạng thần kinh” giúp học sinh hiểu những khác biệt trong cách người ta suy nghĩ hoặc tri nhận thế giới; được thiết kế để khuyến khích nhận thức nhóm bạn cùng trang lứa, chấp nhận về mặt xã hội, thấu cảm và hòa đồng ở mọi học sinh cho dù một số bạn có thể biểu lộ hành vi khó thấu hiểu hết được…

J. Soi (36): Nhắm vào động cơ nội tại; làm chi đánh thó nổi, chỉ sợ đích thị mình có gì không thôi

Được địp đồng nghiệp nhờ hỗ trợ thiết kế bộ mấy chục kỹ năng mềm theo yêu cầu của thủ trưởng đơn vị, tôi nghiêm túc ướm lời về cách xử lý công việc cơ quan. Bạn có vẻ tự hào với khả năng nhanh nhạy, việc khó mấy cũng tìm ra cách xử lý ổn thỏa; bao sân nhiều món và thừa năng lực cá nhân để vừa quán xuyến được từ cái tăm, chiếc ghế và món tráng miệng giữa buổi hội thảo cho đến chuyện kịp đúng hạn nộp bài nghiên cứu khoa học cấp nọ kia.

Cống hiến thời gian và công sức tập trung nhằm thỏa mãn các nhu cầu cả về tinh thần và thể lý đem lại cho chúng ta một sức chịu đựng, độ nhẫn nại phục vụ tha nhân, cộng đồng. Cảm giác mạnh mẽ trong đam mê và mức đồng cảm ấy có thể đẩy chúng ta cho nhiều hơn những gì mình có, kết quả dẫn tới sự mệt lả hoặc kiệt sức.

Không những cần biết cách cân bằng giữa giữa sự đồng cảm vì người với sự chú ý tới việc tự chăm sóc bản thân, bất chấp việc tăng lên thông thường của lương bổng và thu nhập, thực tế không có gì thúc đẩy chúng ta tốt hơn việc có lý do bên trong, hết sức riêng tư để thực hiện điều gì đó.

Nghiên cứu lý do đăng ký vào học của tầm 11.000 học viên trường sĩ quan West Point (Hoa Kỳ) cho thấy chẳng có gì đáng ngạc nhiên “càng mãnh liệt với các lý do nội tại (trở thành một lãnh đạo ra trò) khi vào West Point thì đó là các học viên dễ tốt nghiệp và chóng được cấp bằng sĩ quan”, so với người có động cơ ngoại giới (đạt được viễn tượng nghề nghiệp ngon lành).

Điều các nhà nghiên cứu ngạc nhiên, những học viên có cả động cơ ngoại giới và nội tại thì lại thi hành công việc kém cỏi hơn so với ai chỉ có các động cơ nội tại không thôi; những người ôm đồm cả hai loại động cơ thì ít được thăng tiến và thời gian lưu lại trong quân đội sau thời gian quy định phục vụ năm năm cũng ít hơn. Kết luận rút ra là các hoạt động nên được cấu trúc sao cho các hậu quả ngoại giới, như lương cao hơn, không nên trở thành các động cơ phấn đấu của bản thân. “Giúp đỡ người ta tập trung vào ý nghĩa và ảnh hưởng của công việc họ làm, hơn là chú mục vào chẳng hạn thu nhập tài chính mang lại, có thể là cách tốt nhất để cải thiện không những chất lượng công việc mà còn tạo thành tựu cả về mặt tài chính nữa”.

Thời gian cộng tác ngắn cũng khiến tôi kịp liên tưởng tới việc khởi nghiệp. Rằng khi các người khởi nghiệp tìm kiếm nhà đầu tư, điều căn cốt là công ty nhắm vào các ý tưởng tốt nhất chứ không phải tốn thời gian hoàn thành việc bảo vệ ý tưởng hợp pháp nhằm ngăn ngừa các nhà đầu tư đánh thó ý tưởng của họ đem về. Đáng chú ý, cả nhà đầu tư lẫn các công ty mới khởi sự thường ít thích các ý tưởng điều chỉnh theo ý của thị trường, thay vào đó, tự kiểm soát phù hợp, các công ty mới gia nhập có thể bảo vệ các ý tưởng riêng có và tăng tốc kinh doanh thêm lên… Như lời trích dẫn trong bài báo “nguy cơ tiến chậm thì đáng lo ngại hơn là nguy cơ bị sao nhái ý tưởng”.

Lời cảnh tỉnh từ ngoại quốc thật thiết thực, quá chừng đúng đắn và sống động giữa thời buổi giao thời, nhiễu nhương.

Huấn luyện viên và nhà tham vấn/ tâm lý trị liệu: vài khác biệt cơ bản

Vài năm trở lại đây, hướng đạo đời sống và các huấn luyện viên (coaches) mở rộng vị thế trong các ngành nghề liên quan đến chức trách trợ giúp. Tuy thế, ranh giới giữa những gì là một huấn luyện và gì là một nhà tham vấn và trị liệu tâm lý (counselors/ therapists) vẫn thiếu vắng xác định nghiêm túc, từ cả phía khách hàng lẫn bên cung cấp dịch vụ. Tôi nghĩ tới việc chỉ ra vài khác biệt cơ bản giữa huấn luyện viên và nhà trị liệu tâm lý do nhận được đề nghị bình luận với các thông tin liên quan (1, 2).

Ngoài điểm khác biệt nền tảng thuộc giáo dục (bằng cấp, kéo theo đòi hỏi các tiêu chí đào tạo chuyên biệt, tính chuyên nghiệp và đạo đức hành nghề) thì có một vấn đề rất cốt lõi cả huấn luyện viên lẫn nhà tham vấn tâm lý dễ dàng tán đồng ngay: huấn luyện viên không ngụ ý điều trị các rối loạn tâm thần; ranh giới này thường đặt để rõ ràng trước phiên làm việc đầu tiên.

Với tỷ lệ không hề nhỏ dân số có thể sẽ được chẩn đoán mắc một dạng kiểu rối loạn tâm thần nào đó thì cơ hội một người phát triển trạng thái rối nhiễu còn lâu mới là điều vớ vẩn. Và khi một rối loạn nổi trội, điều cuối cùng thân chủ muốn thường là thay đổi người cung cấp dịch vụ. Một huấn luyện viên nghiêm túc có thể chuyển gửi thân chủ, song họ không phải là chuyên gia trong nhận diện và chẩn đoán rối loạn tâm thần do đó, vẫn tiềm tàng nguy cơ bỏ sót các dấu hiệu, triệu chứng… Thực tế, hiếm khi nghe thấy việc chuyển gửi thân chủ sang trị liệu tâm lý do đó, biết hay không, các huấn luyện viên đang làm việc với rối loạn tâm thần.

Đặt sang bên các sự kiện khách quan về huấn luyện viên và nhà tâm lý trị liệu, cả hai nhóm này có văn hóa và niềm tin khác hẳn nhau. Hơn thế, huấn luyện viên thường phân biệt họ với nhà tâm lý trị liệu về các vấn đề này, và điều ấy hết sức đúng đắn. Tuy vậy, một số điểm khác biệt thường nghe lại đặc trưng hóa sai lầm tiến trình trị liệu, và vì thế thật hoan hỉ để nói về nhà trị liệu tâm lý với tư cách một nhà trị liệu tâm lý.

Thường nghe rằng các nhà trị liệu tâm lý bảo thân chủ điều nên làm trong khi huấn luyện viên giúp thân chủ phát hiện những gì họ muốn thành tựu. Ngay cả khi huấn luyện viên tuyên bố đúng đắn họ đề cao các mục tiêu của thân chủ thì đấy là sự thật tương tự với nhà trị liệu tâm lý: được huấn luyện cách đặt để các mục tiêu với thân chủ; nhận ra rằng các mục tiêu do thân chủ chọn lựa là dạng mang tính động cơ nhất và vì thế, thuận ý họ.

Các huấn luyện viên gắng định vị bản thân như người biện hộ và bênh vực cho các thân chủ khao khát thành công rực rỡ còn các nhà trị liệu tâm lý nhắm vào các rối loạn và trục trặc liên quan sức khỏe tâm thần. Trong khi các nhà trị liệu tâm lý chắc chắn thành thạo để làm việc với người mắc rối nhiễu tâm lý theo cách thức mà huấn luyện viên không đáp ứng được thì nhà trị liệu tâm lý như một nguyên tắc, không hề hạn chế bản thân chỉ trong phạm vi điều trị rối loạn tâm thần; kỳ thực, nhiều thân chủ khao khát thành công rực rỡ sử dụng tham vấn/ trị liệu tâm lý như một nguồn dậm nhảy đặng vươn tới các mức độ hiệu năng lớn hơn và phát triển cảm xúc dồi dào.

Tiến trình trị liệu tâm lý đôi khi hay được đặc trưng hóa là thuộc dài hạn, đau đớn và nhắm vào quá khứ, đối lập với việc huấn luyện thường nhanh chóng và nhắm vào các thành tựu tích cực của tương lai. Có rất nhiều dạng thức trị liệu tâm lý đòi hỏi dài hạn và nhắm vào quá khứ mà rõ nhất là các cách tiếp cận tâm động (psychodynamic psychotherapy) truyền thống; dẫu vậy, các nhà trị liệu tâm lý đa phần không thực hành dạng thức trị liệu này và xu hướng trị liệu tâm lý tiến về các cách tiếp cận cho các thay đổi nhanh chóng trong các hành vi tiến bộ. Trị liệu ngắn hạn nhắm vào giải pháp (SFBT) thông dụng nhất thuộc các cách tiếp cận nhanh lẹ, hướng về phía trước vừa nêu.

Cả huấn luyện viên và trị liệu tâm lý đều là các nghề nghiệp tiến triển. Hy vọng ranh giới các vấn đề giữa trị liệu tâm lý và huấn luyện sẽ sớm được chuyển đối theo thời gian. Huấn luyện viên và nhà trị liệu tâm lý nợ chính thân chủ của mình sự xác định thật chính xác và đúng đắn cách tiếp cận và phạm vi thực hành.

Nhân đây, cũng cần biết rằng, với bất kỳ ai đang gặp phiền nhiễu ghê gớm và với ai đó tin rằng vấn đề trục trặc của họ có thể do nguyên nhân thuộc cơ thể, sinh lý thì khuyến cáo đơn giản quan trọng nhất là đến nhờ một bác sĩ tư vấn trước đã.

Mức độ hiểu biết y khoa và tâm thần học mà các nhà tham vấn/ trị liệu tâm lý có thể nắm giữ, tinh thông trong công việc thì khác biệt khá lớn giữa các cá nhân và giữa các quốc gia, và dĩ nhiên, ngay tại Việt Nam, vẫn có các nhà tham vấn hoặc trị liệu tâm lý hiểu biết ít ỏi kiến thức y khoa, tâm thần thậm chí, không hay biết chút gì.

Nên chi, một nhà trị liệu thuần thục sẽ khuyến cáo thân chủ tìm đến một vị bác si nếu anh/ chị ta nghi ngờ vấn đề rối nhiễu của thân chủ có thể do nguyên nhân thực thể, thậm chí, rất có khả năng ngay cả với các dự tính thiện lành, anh/ chị ta đã không phát hiện được các triệu chứng, nên lần nữa, nếu bạn nghi ngại bất kỳ trục trặc nào thì cách tốt nhất đảm bảo an toàn là sự lặp lại đáng giá: đến nhờ một bác sĩ tư vấn trước đã.

Nhờ một bác sĩ tư vấn cũng là bước đầu tiên quen thuộc của nhiều người khi tìm kiếm một nhà trị liệu tâm lý. Không ít cơ sở y tế liên kết, tổ hợp trong hệ thống các dạng thức dịch vụ tư vấn/ trị liệu tâm lý nọ kia. Tuy nhiên, thực tế cho thấy cũng sẽ ít hơn hoặc không có lựa chọn với các định hướng lý thuyết thuộc tham vấn/ trị liệu tâm lý có thể được tiếp cận dễ dàng thông qua mạng lưới tham chiếu thuộc ngành y tế…

… Câu cửa miệng hay nghe là “thực hành tạo nên sự hoàn hảo”; thậm chí, có thể đẩy lên thành ‘thực hành không tạo nên sự hoàn hảo, chỉ có thực hành hoàn hảo mới tạo nên sự hoàn hảo’. Song, những gì tạo nên sự hoàn hảo và làm thế nào để mình hoàn hảo việc thực hành thì đó là chủ đề để dành cho một bài viết khác.

“Ilo Ilo”: vài điều ngồ ngộ mai mỉa trong một bộ phim

Hồ Tây, ngày mơ hồ lên tay...
Hồ Tây, ngày mơ hồ lên tay…

Ilo Ilo” được xem là phim tiếng Hoa hay nhất của năm 2013.

Những vết xước gắng sức chịu đựng trong việc giữ gìn một gia đình nhỏ để vẫn sống cùng nhau được; là chuyện thêm một người bước vào căn hộ có thể khiến động năng của nó bộc lộ ở cả hai mặt tốt lên và xấu đi. Dưới đây là 7 điều ngồ ngộ nhận thấy qua các tương tác giữa họ.

1. Không còn tình yêu để duy trì gia đình, cả ông bố và bà mẹ của cậu bé cố gồng mình bám lấy công việc; tức điều ấy ngầm nghĩa họ giảm sút chất lượng thời gian dành cho con. Trách nhiệm mỉa mai thay, dẫn đến thiếu vắng tư cách làm cha mẹ, kéo theo hụt hẫng mối quan hệ bố mẹ và con cái. Trạng thái thiếu hụt này chưa được kiểm tra.

2. Do tình yêu đã hết dần cạn kiệt, bố mẹ thuê giúp việc trông nom cậu bé. Trạng thái bỏ bê vai trò làm cha mẹ càng rõ ràng hơn với sự quan tâm của người giúp việc dành cho cậu bé; hậu quả, bà mẹ ghen tuông song chính bản thân mình lại không nhận ra rõ ràng. Ông bố quá buồn phiền với công việc nên không hề hiểu nguyên nhân của sự ghen tuông. Trạng thái ghen tuông chưa được kiểm tra.

3. Người giúp việc trở thành bà mẹ thay thế, trong khi đứa bé là cậu con trai khác của người giúp việc. Hiện diện cả tình yêu thương lẫn sự thù ghét trong cách mà đứa bé gây khó cho người giúp việc để rồi về sau cậu ta cũng hiểu đó còn là sự quan tâm nữa. Người giúp việc cũng pha trộn ghét bỏ và nhu cầu chăm sóc cho cậu bé. Các cảm xúc trái ngược, mâu thuẫn ấy chưa được kiểm tra.

4. Cả bà mẹ và người giúp việc thấy được sự thiết yếu cần kiếm nhiều tiền hơn, đó là lý do tại sao họ để “người xa lạ” chăm sóc con trai còn nhỏ của mình. Bà mẹ đi làm và để con trai ở nhà cho người giúp việc chăm sóc bất đắc dĩ, trong khi người giúp việc sang nước ngoài  lao động và để con trai cho chị gái không sẵn lòng chăm sóc. Trạng thái trớ trêu này chưa được kiểm tra.

Hầu như cũng chưa được ngó ngàng tới, có ba mối quan hệ kỳ cục dính tới động vật trong bộ phim này.

a) Gia đình kéo vào KFC gà rán ăn uống no nê để tổ chức tiệc sinh nhật cậu bé trong khi ông bố tặng quà cho cục cưng của mình bằng hộp có mấy chú gà con liếp chiếp. Dẫu cho hành động ấy nhằm đền bù vì đã vất xuống đường con gà điện tử của cậu con thì đấy là ví dụ vui chăng cho cách thức nhiều người chúng ta tự mâu thuẫn trong ứng xử mà thậm chí chẳng hề để ý tới. Trạng thái bất hòa về mặt nhận thức này chưa được kiểm tra.

b) Cậu bé rất chú ý chăm bẵm đàn gà con cho đến khi chúng lớn phổng phao; lúc ấy, cậu ta lại không chút chần chừ đề nghị người giúp việc thịt một con để làm mâm cỗ cúng cho ông nội đã qua đời, với niềm tin mong cầu ông mình sẽ phù hộ cho cậu ta trúng vé xổ số (kết cục trật lất). Nhìn vào cách cậu chàng trẻ con ngả giá và đặt điều kiện khi thể hiện tình yêu thương với động vật, cũng như nỗi khấp khởi đầu tư ‘hy vọng’ cho sự đổi thay và phát đạt của cả hai mẹ con quả ít nhiều cám cảnh. Trạng thái niềm tin sai lạc này chưa được kiểm tra.

c) Nếu cậu bé đích thực thương yêu đàn gà, chắc chắn nó sẽ không để cho ai làm hại chúng, nói gì đến việc đề xuất giết thịt. Liệu một khi muốn thịt gà, cậu bé có nên tự tay mình thực hiện? Sự thật, giống nhiều kẻ ăn thịt, nó không hề giết động vật dù thích ăn thịt chúng, đặc biệt các con vật trông đáng yêu. Trạng thái đối xử bất công, thiên vị này chưa được kiểm tra.

Dĩ nhiên, bộ phim ‘Ilo Ilo’ minh họa lắm thứ phức tạp bằng vô số cảnh quay thú vị hơn thế, song thức nhận ra những điều ngồ ngộ, mỉa mai vậy để càng suy ngẫm với thực tế đời sống chứa mang vô vàn sắc thái vi tế khác nữa.

Nàng Bạch Tuyết: đẹp, xấu, và quãng đời sống thực ở giữa

Bạch Tuyết, nàng có cần phải xấu?
Bạch Tuyết, nàng có cần phải xấu?

Câu chuyện cổ tích Grim về nàng Bạch Tuyết từ thời thơ ấu xa lơ xa lắc giờ lại sống dậy bàng hoàng, với một chiều kích và ánh sáng khác, khi dịp cuối tuần gần một tháng trước ghé sang Viện Goethe xem phim.

Nghĩ về một trường hợp muốn ly hôn song cũng chưa thôi mong đợi làm sao có thể níu kéo và nữ thân chủ hy vọng, với việc kiếm ra tiền nhiều hơn thì dễ khiến ông chồng thôi còn lăng nhăng mà sẽ ghi nhận nỗ lực phấn đấu của vợ để rồi thủy chung quay lại.

Gợi khái niệm ‘hệ thống sống còn’ mà việc hiểu biết đầy kịch tính về nó có thể sử dụng câu chuyện cổ tích Nàng Bạch Tuyết (Snow White), không phải với phiên bản Disney mà câu chuyện tìm thấy trong Truyện Cổ Grim sau lần xuất bản lần đầu tiên vào 1812.

Trước hết ý tưởng cơ bản liên quan khái niệm này là trẻ em cần người lớn để đảm bảo sống còn và trong một số trường hợp trẻ em đặt qua bên nhu cầu riêng tư và thích nghi với nhu cầu bất thường, thiếu ổn định, mang tính mệnh lệnh của bố mẹ hoặc một thành viên gia đình khác. Những sự thích ứng này, như các hệ thống sống còn, trình bày các mẫu hình đầy quyền năng về hành vi, thái độ và niềm tin chức năng nguyên ủy vốn nhằm duy trì cảm giác an toàn cũng như tiếp tục gắn bó với người lớn trong thế giới của trẻ nhỏ. Hình thành từ thời thơ ấu và nền tảng dựa trên suy tư cụ thể và phàm tục của một đứa trẻ, dần về sau chúng cho ra các hành vi thất sách của kẻ vị thành niên và người trưởng thành.

Giờ quay lại phiên bản đầu tiên của truyện cổ tích Grim. Phiên bản Tiểu Bạch Tuyết ấy tuân thủ truyền thống mà động năng và cốt truyện của loại văn chương truyền khẩu vốn chú trọng mô tả ‘con người bình thường’. Theo đó, cô bé mới 7 tuổi khi thấy dung nhan mình trong chiếc gương thần như là ‘người đẹp nhất giữa thế gian’. Mẹ Bạch Tuyết không chết khi sinh ra cô, bà sống thọ và là chủ nhân thực sự của chiếc gương thần. Việc bà mẹ ruột bị chuyển thành bà mẹ kế độc ác bắt đầu từ bản in 1819 trở về sau; sự chuyển dịch thế được tìm thấy trong các chuyện cổ tích khác, biểu tỏ nhu cầu của anh em nhà Grim muốn lý tưởng hóa Bà Mẹ như biểu tượng quan trọng của các giá trị Đức quốc.

Cụ thể hơn, theo truyện, sau khi dung nhan Bạch Tuyết xuất hiện trong chiếc gương thần, cô bé trải qua các cuộc tấn công của bà mẹ sôi máu điên cuồng vì ganh tỵ: bảo người tiều phu đưa cô vào rừng thủ tiêu, và ba lần hãm hại khác do chính bà mẹ hóa thân thành bà lão tiến hành ở nơi mà gương thần mách bảo chỗ trú ngụ của Bạch Tuyết (dải lụa thắt chặt đủ để mất ý thức, cái lược tẩm độc cũng làm nạn nhân mê man, và cuối cùng là quả táo thêm độc dược); tiếp đó, phần còn lại là Bạch Tuyết nằm mãi trong quan tài cho đến ngày được chàng hoàng tử giải cứu, rồi họ sống ‘hạnh phúc bên nhau mãi mãi’.

Đổi đoạn kết của chuyện cổ tích vào việc người ta giải quyết thực tế và anh thư có thể là một phụ nữ trẻ trung bị tàn hoại khủng khiếp bởi các trải nghiệm trong đời. Cô có thể đau đớn bởi rối loạn stress sau sang chấn, ám sợ dây ren, dải buộc, lược, táo, và các quý bà rồi đau đớn do mắc rối loạn giấc ngủ nghiêm trọng cũng như dạng phản ứng lo âu lan tỏa. Đây rõ ràng không phải là cá nhân sống ‘hạnh phúc mãi mãi về sau’.

Khi hỏi một đứa trẻ rằng nàng Bạch Tuyết cần làm gì, với tư duy cụ thể, nó trả lời rằng: ‘Chị í cần rời khỏi cái gương’. Vậy rồi sau đó cô í cần làm thế nào nữa?  ‘Chị í cần phải xấu xí’; càng xấu xí thì cô í càng không phải bị bà mẹ ái kỷ quá độ hành hạ. Chuyển thể Nàng Bạch Tuyết nhằm tránh rơi vào vòng cạnh tranh, đối đầu thảm khốc đầy tai ương với bà mẹ, dạng thức cốt lõi của hệ thống sống còn của nàng, là ‘phải nhất thiết xấu xí’. ‘Nhu cầu’ ấy có thể tự thân biểu hiện trên nhiều cách thức, tỷ dụ, trở nên thừa cân và béo phì. Cô gái trẻ, người sống sót và thoát khỏi nỗi ghen ghét, tị nạnh của bà mẹ nhờ mập ú, là một sự đánh mất để hiểu ra tại sao khi lớn lên cô không thể giảm cân, bất luận dù có cố gắng đến thế nào. Cô không hiểu rằng các hệ thống sống còn nảy sinh từ thời thơ ấu vẫn không dễ dàng thả bỏ quyền năng tác oai tác quái của chúng.

Các hệ thống sống còn này có thể diễn biến dưới nhiều dạng kiểu. Nếu bà mẹ hỏi: “Ai là người thông minh nhất trong chúng ta?”, nàng Bạch Tuyết e sẽ là kẻ đần độn. Nếu một người cha ướm lời: “Ai là người cần thiết nhất trong chúng ta?”, cậu con trai e sẽ là đứa phụ thuộc kém cỏi. Nếu anh cả được ưu ái nói: “Ai là người thành công nhất trong nhà mình?”, cậu út ít e sẽ đóng vai kẻ thất bại. Nếu đứa trẻ tin thật nguy hiểm khi vén lộ các bí mật gia đình, nó sẽ trở thành “đứa trẻ lặng câm”. Trong khi tất cả các chiến lược thành công giúp một đứa trẻ giải quyết với môi trường rối rắm và tiềm tàng hiểm nguy thì chúng lại không có được các đáp ứng lành mạnh hoặc đúng đắn khi trở thành người lớn trưởng thành.

Khi tuổi thơ của chúng ta trải qua cảm giác bị tước đoạt, mất mát về mặt cảm xúc thì dạng thức thiếu vắng không nghĩ mình là người quan trọng hoặc đáng yêu đủ kéo dài trong khi trưởng thành như một kiểu ‘não trạng mất mát”. Chúng ta có thể ước gì mình có thể có đủ đầy những thứ mình cần; cảm giác bất an này dễ làm băng hoại, tàn phá các quan hệ thân mật. Chúng ta thậm chí mong đợi những người yêu thương mình bỏ rơi, hắt hủi mình, không bao giờ biểu tỏ các nhu cầu bản thân một cách trực tiếp hoặc lựa chọn tình nhân cặp đôi là những người lảng tránh, ngại cam kết gắn bó, không thích thân mật, gần gũi. Cảm xúc thiếu vắng, mất mát các nguồn lực quan trọng như tình yêu, thực phẩm, tiền bạc, hoặc thời gian có thể dẫn ta tới nỗi sợ hãi hoặc tức giận. Chúng ta có thể ám ảnh bởi những thứ mình thiếu thốn, hoặc có thể cảm thấy nhu cầu thao tác, vận hành trong mô thức khẩn cấp: bủn xỉn, hà tiện hoặc lên gấp gáp kế hoạch từng giây phút một trong đời.

Ngoài lầm lạc liên quan đến việc quản lý và nhận biết về thời gian, não trạng mất mát và thiếu vắng trên còn dễ khiến ta đưa ra các quyết định vội vàng, ngắn hạn để rồi sẽ làm tăng thêm khó khăn, rắc rối cho những khoảng thời gian dài hơi hơn; chưa hết, não trạng ấy còn quấy nhiễu ta về mặt động cơ, làm mình dấn vào những sự quyến rũ, cám dỗ và thử thách mà khả năng cao là bị tổn thương… Điều nên làm để thay đổi là hình thành thái độ biết ơn; không so sánh bản thân với người khác; ngừng hẳn ám ảnh; sử  dụng các công cụ đo lường ưu tiên (lên danh sách những việc cần làm, lập kế hoạch, v.v…); đừng tham lam, thèm khát quá…

Thực tế, hầu hết bố mẹ không giống với bà mẹ độc ác trong truyện cổ tích Nàng Bạch Tuyết. Nhiều người có thể trải qua môi trường hồi tuổi thơ đầy rối rắm, trục trặc hoặc khốn khó và có khả năng đã phát triển các hệ thống sống còn phù hợp với thân phận của riêng họ. Điều quan trọng là người cha có thể nhìn vào nền tảng gia đình sinh học đặng thấy ra mình có mắc mứu với một môi trường cạnh tranh cực độ thế không; khả năng khác là ông hãy còn vướng vào nhu cầu sống còn xưa cũ để cảm thấy mình nhất thiết tồn tại, hay ông muốn làm ‘người cha hoàn hảo’ bởi vì mình dính dáng với một hệ thống sống còn đòi hỏi phải làm người hoàn hảo.

Càng thấu hiểu lịch sử chính mình và đạt được một khoảng cách tốt nhất với quyền lực của các hệ thống sống còn đặc thù, chúng ta càng tìm thấy nhiều khả năng để cống hiến, đưa lại và tạo lập cho con cái mình một môi trường cho phép chúng phát triển nhân cách, tài năng và những tiềm tàng riêng có.

J. Soi (34): Bừng sáng

Này người phụ nữ trẻ như đóa cúc trắng, không ai khác ngoài bản thân phải tự hỏi mình xem điều gì thực sự tốt lành để thực hiện. Cả mấy năm kết hôn kỳ thực chính cô cơ chừng chưa từng nghĩ tới nghịch lý giản đơn này: làm sao cứ mãi đi tìm và gặp cho được một người đúng đắn khi ta còn chưa trở thành một kẻ tương tự như thế.

Dự tính tốt lành mà không có đánh giá chính xác thì tựa như từ bi mà không trí tuệ. Bây giờ thì hy vọng cô đã biết rõ, tốt nhất là cần nhận thức sắc sảo và sáng suốt hơn. Dự tính tốt lành kiến tạo một số nghiệp tốt lành và những điều ấy càng dẫn dắt thật chắc chắn, các kết quả ngày càng tốt đẹp thêm lên.

Mức đối lập càng lớn ở chính nơi các xó góc thì càng làm mọi sự sáng bừng.