J. Soi (34): Bừng sáng

Này người phụ nữ trẻ như đóa cúc trắng, không ai khác ngoài bản thân phải tự hỏi mình xem điều gì thực sự tốt lành để thực hiện. Cả mấy năm kết hôn kỳ thực chính cô cơ chừng chưa từng nghĩ tới nghịch lý giản đơn này: làm sao cứ mãi đi tìm và gặp cho được một người đúng đắn khi ta còn chưa trở thành một kẻ tương tự như thế.

Dự tính tốt lành mà không có đánh giá chính xác thì tựa như từ bi mà không trí tuệ. Bây giờ thì hy vọng cô đã biết rõ, tốt nhất là cần nhận thức sắc sảo và sáng suốt hơn. Dự tính tốt lành kiến tạo một số nghiệp tốt lành và những điều ấy càng dẫn dắt thật chắc chắn, các kết quả ngày càng tốt đẹp thêm lên.

Mức đối lập càng lớn ở chính nơi các xó góc thì càng làm mọi sự sáng bừng.

Chất lượng dịch vụ tồi tệ: khách hàng thường mê tiếp thị kiểu gì

Ơn giời, bởi thay vì thuận miệng định tạt vào quán lẩu 3 con cừu (Mông Cổ), anh bạn chuyên nghề kiểm toán hay làm việc với đối tác Nhật Bản đã kịp thay đổi với đề nghị ghé hàng cơm niêu.

Tuyền các món ăn dân dã hợp với thói quen sành sõi ẩm thực đất Bắc thong thả được gọi tên; nội nghe giới thiệu cách chuẩn bị nguyên vật liệu, chế biến, bày biện của bạn thấy các thứ vốn nào xa lạ gì chợt hóa lung linh, thi vị, lạ lẫm hẳn lên. Trời nồm sang giêng hai vẫn còn giá rét nên chắc chắn cơm nóng canh sốt, đủ chất dinh dưỡng đầy hương thơm thừa sức thỏa mãn mắt môi, bụng miệng.

Cơ mà nhà hàng phục vụ không khéo. Dọn lên tuốt tuột, kiểu cho sang tất một chuyến đò. E ngại khách buồn, thấy vẻ thất vọng không nói nên lời của bạn mà thương.

Tiếp thị chẳng với bất kỳ ai cả.

Năm năm trước, trong một số tạp chí doanh thương Harvard có bài chỉ ra rằng khách hàng không muốn kéo dài thêm lối phục vụ “gấp gáp và phiền toái” đã trở nên thông thường trong làm ăn ngày nay. Khách hàng muốn có trải nghiệm lớn lao khi họ bước vào một định chế kinh doanh, bất kể đó là hàng bán tạp phẩm hay nơi giặt là áo quần. Các cơ sở kinh doanh hiểu biết điều này sẽ thiết lập được các khách hàng trung thành.

Trong nghiên cứu vừa nêu, hai tác giả Dougherty & Murthy (2009) nhận thấy, khi khách hàng tiếp xúc với các doanh nghiệp làm dịch vụ (ví dụ, giải đáp và chăm sóc khách hàng) thì họ muốn hai điều; thứ nhất, nhân viên giúp tôi có am hiểu không?, thứ hai, các thắc mắc tôi nêu ra sẽ được giải quyết ngay từ cuộc gọi đầu tiên?

Đáng tiếc, nhiều trung tâm phục vụ (giải đáp thắc mắc) tiếp tục theo vết và đo lường thời gian bắt máy rồi số phút từng cuộc gọi mà họ thực hiện cả mấy thập niên nay! Kỳ lạ, khi làm thế thì thông điệp chuyển tới các nhân viên là nhanh chóng lên, hậu quả là công việc gấp gáp; chính xác là thứ trải nghiệm mà khách hàng ghét.

Tính trung bình, 40% khách hàng trải qua khó chịu đã ngừng giao dịch với các công ty gây bực dọc cho họ.

Các công ty cần có một số uyển chuyển phù hợp. Cho các nhân viên của mình độ rộng rãi nhất định để “thỏa mãn các nhu cầu cá nhân của khách hàng và để lại cho họ cảm giác thoải mái và dễ chịu.” Người quản lý nên để ý xem các yêu cầu của khách hàng đã được giải quyết trong lần tiếp xúc đầu tiên, phát hiện xem trục trặc đích thực nằm ở đâu (nếu không xử lý ổn thỏa trong một cuộc gọi) rồi tạo ra thay đổi cần thiết.

Một số công ty tin tưởng hết sức ngây thơ rằng các khách hàng cảm thấy tức giận, khó chịu sẽ thông cảm cho dịch vụ của mình và sẽ quay lại nhiều lần nữa; kỳ thực, “nghiên cứu chứng tỏ, ngược hẳn, các khách hàng bất mãn lặng lẽ biến mất mà không thèm nêu lên chút than vãn nào”.

Lần nữa, đừng bao giờ hy sinh phẩm chất cho tốc độ phục vụ. Khách hàng muốn cảm thấy mình có giá trị, được trân quý; bởi hơn mọi điều, khách hàng đánh giá cao cách thức mà họ được đối xử. Theo một nghiên cứu của Hiệp Hội Hoa Kỳ về Kiểm soát Chất lượng (ASQC) thì chưa tới 10% bỏ đi hoặc sang nơi khác vì những lý do không liên quan đến doanh nghiệp (ví dụ, chuyển đổi hoặc không có nhu cầu sử dụng sản phẩm nữa); chưa tới 10% khách hàng thích sản phẩm của đối thủ cạnh tranh; và khoảng 10% khách hàng bỏ đi vì họ không hài lòng với sản phẩm; tuy thế, phát hiện thú vị nằm ở chỗ: hơn 65% khách hàng bỏ đi nơi khác vì chất lượng phục vụ kém cỏi.

Tác giả cuốn sách Swartzlander (2004) thượng dẫn có nêu khái niệm “cá nhân hóa” tích cực là sự tương tác xã hội tích cực giữa một người cung cấp dịch vụ và khách hàng; và theo bà, cá nhân hóa có thể trải dài từ thái cực là cảm nhận ấm áp, tích cực cho đến thái cực đối lập là lạnh lùng và vô cảm, song thái cực thứ hai lưu giữ trải nghiệm cá nhân hóa tích cực và tái xác lập niềm tin rằng không phải mọi nhân viên phục vụ chuyên nghiệp đều tồi tệ hoặc thô lỗ. Và ngay cả khi mình có thể trải nghiệm tính cá nhân hóa tiêu cực nhiều hơn mình mong đợi thì chúng ta luôn vui mừng tình cờ bắt gặp sự cá nhân hóa tích cực.

Khách hàng muốn được đối xử tôn trọng và lịch sự. Nếu công ty hoặc doanh nghiệp không thay đổi thì làm ơn đừng quên rằng, trong số 100 khách hàng  thì 65 người sẽ không quay trở lại vì chất lượng phục vụ của quý vị kém cỏi, tồi tệ.

Mình cần bao nhiêu con ngựa nào?

Không biết gì là đủ thì chẳng bao giờ đủ, ngay cả khi có đủ.

Theo chuyện dân gian Tây Tạng được phiên chế, kể lại thì anh nọ có 1 con ngựa, anh kia 99 con song cả hai vẫn không ai thấy thế là đủ.

Anh đầu thầm ước, “giá mà người anh em kia cho mình một con thì ngựa mình có bạn có bè.” Tay kia lại ngẫm nghĩ, “nếu người anh em kia cho mình một con thì có phải số ngựa mình thành 100 con tròn trịa”.

Cả hai sẽ chỉ hài lòng khi có thêm một con ngựa? Và có lẽ, rồi thì, chẳng mấy chốc, họ lại muốn thêm chút nữa?

Bạn là người anh em nào?

Người đầu tiên hiện tại có ít ỏi, hay người thứ hai cơ chừng tích lũy khá nhiều rồi?

Giàu hay nghèo, không ai đủ đầy hay dư dật nếu kẻ ấy luôn luôn muốn nhiều hơn cần thiết. Bằng lòng do vậy, là sự giàu có lớn lao nhất.

Tuy thế, những giàu có trần tục chẳng thể mua được sự bằng lòng, mãn nguyện; vì những theo đuổi bất tận nhờ tích cóp vật chất thì chẳng khác chi cái trò săn một củ cà rốt đang treo trên cây gậy lơ lửng trước mặt.

‘Loại ngựa’ nào mình muốn đây? Tiền bạc, các khoái lạc cảm giác, danh tiếng, thực phẩm, ngủ nghỉ,…? Tất thảy đều phù du và không ngừng trôi đi, băng qua.

Nếu mình có nhiều hơn các ‘con ngựa’ cần thiết rồi còn muốn hơn thế nữa, tại sao không rộng lượng trợ giúp cho những ai đích thị thực sự đang cần? Hãy cẩn thận kẻo vô tình kích hoạt lòng tham nơi những kẻ khác!

Mình cần bao nhiêu con ngựa nào?

Cá nhân tôi thì không. Nâng đỡ cho sự tự do của đời sống hoang dã ở thế giới hữu sinh và tối đa phương tiện giao thông công cộng.

Điều gì ngăn cản người ta không dám đề nghị để được giúp đỡ?

Hoa ngũ sắc hay đời em cứt lợn, biết ơn đời chẳng chấp một cái tên
Hoa ngũ sắc hay cây cứt lợn, biết ơn đời chẳng chấp một cái tên

Sau một giấc ngủ dài phó mặc cho thế gian biến sự diễn ra theo ý nó muốn, người ta có thể lắng mình nảy sinh ít nhiều suy tư thú vị và càng củng cố thêm động cơ thả bỏ giá trị bản thân, thậm chí, họ có thể dễ dàng trực nhận chính xác cái gọi là ‘bản thân’ í thiệt nào đáng nâng niu, gìn giữ.

Kỳ lạ thay, tại sao thiện hạ không đề nghị, hỏi xin để được giúp đỡ, hỗ trợ?

Thực tế, không ít vị yêu thích việc giúp đỡ tha nhân song lại hiếm khi muốn mình là đối tượng được người khác trợ giúp. Thậm chí, ngay cả khi sức mạnh đã giảm sút vào những năm tháng cuối cùng, vị ấy vẫn kiên định từ chối sự giúp đỡ của các thành phần, đối tượng khác mà điều ấy thường tạo nên trạng thái căng thẳng lẫn hụt hẫng, phiền muộn cho các thành viên còn lại trong gia đình, tổ chức, cộng đồng, v.v…

Cái lối ứng xử kiểu vậy quá dễ gây bực bội đi kèm với cái nhãn “ngớ ngẩn, cứng đầu”, dù kẻ trong cuộc cũng biết rằng bên dưới tinh thần nhất quán thực hiện hành vi này là một nhu cầu tách biệt nhằm kiểm soát bản thân và một nỗi sợ ngập tràn nếu nhỡ đánh mất đi cái khả năng đó. Phí tổn thể lý và tình cảm phải trả lúc về già, tuy thế, sẽ giảm bớt tác động khắc nghiệt lúc mình đề nghị được giúp đỡ.

Trải nghiệm và quan sát cá nhân có thể thấy rằng nhiều người nhận ra mình quá khổ sở khi đề nghị giúp đỡ, cho dẫu họ đang không đương đầu, giải quyết tốt được vấn đề. Bạn có xác định với trải nghiệm đó không? Những niềm tin nào bạn nắm giữ về bản thân và bạn nghĩ mình là ai trong quan hệ với những người khác sẽ góp phần lớn lao thiết lập hành vi, gồm cả trạng thái sẵn sàng, hài lòng đưa ra lời đề nghị được giúp đỡ nữa.

Có 3 lý do giải thích tại sao người ta không đề nghị để được giúp đỡ và các niềm tin ẩn bên dưới ủng hộ, tán trợ cho mỗi một lý do ấy.

  1.  Tôi không cần giúp

Tôi là ai trong quan hệ với những người khác?

  • Tôi mạnh mẽ
  • Tôi đứng đắn, chính trực
  • Tôi độc lập
  • Tôi không thể dựa vào bất cứ ai khác để làm công việc theo cách tôi muốn nó được hoàn thành

Sự thật, là tay siêu nhân cỡ mấy hay kẻ có mạnh mẽ đến nhường nào trong chúng ta thì thảy đều có thể cảm thấy bị stress, áp chế, thiếu thốn thời gian và mệt mỏi. Những lúc như thế, từ chối được giúp đỡ sẽ tạo nên sự oán hận sâu thẳm trong lòng, nỗi hụt hẫng và niềm tức giận một cách không được giám sát trong chuyện hướng các xúc cảm mãnh liệt ấy vào ai đó gần gũi với mình.

Thử cân nhắc thế này nhé:

  • Mình phải trả phí tổn cảm xúc, chịu đựng thiệt thòi ra sao nếu không đề nghị được giúp đỡ khi cần thiết?
  • Nỗi sợ hãi nào xuất hiện khi đề nghị được giúp đỡ?
  • Những gì có thể là lợi lạc cho bản thân và cho những người khác, nếu mình thảng hoặc đề nghị được giúp đỡ?

2. Tôi có thừa khả năng để tiến hành việc đó mà không cần được giúp đỡ

Mình là ai trong quan hệ với những người khác?

  • Tôi nên mạnh mẽ
  • Tôi nên có năng lực
  • Tôi nên ở trong trạng thái kiểm soát
  • Tôi nên độc lập

“Nên” phản ánh niềm tin sai lệch rằng mình chỉ nên chấp nhận người khác khi mình ứng xử theo cách thỏa mãn mong đợi của họ. Bên dưới những điều “nên” như thế, mình có thể đang cảm nhận về sự thiếu thích ứng, bất lực, do dự, kinh hoảng và cô độc. Nỗi sợ mình sẽ bị phơi nhiễm, bày lộ hết ra ngoài rồi tuần tự ngượng ngập và/ hoặc bị chối bỏ ngăn ngừa mình không đề nghị cần thiết muốn được giúp đỡ,

Thử cân nhắc điều này nhé:

  • Phải trả phí tổn cảm xúc, chịu đựng thiệt thòi nào khi mình tuân theo những cái ‘nên’ ấy?
  • Giọng điệu của ai đang khăng khăng mình ‘nên’: bố mẹ hay ai đó uy tín, quan trọng khác trong quá khứ hoặc thuộc hiện tại?
  • Sẽ như nào nếu mình tìm thấy sự giúp đỡ cần thiết đặng đương đầu với cuộc sống hàng ngày và tất cả yêu cầu đời đòi hỏi?
  • Những gì mình nhận ra là thách thức ghê gớm nhất về chuyện đề nghị được giúp đỡ?

3. Người khác nên biết tôi đang cần được giúp đỡ

Mình là ai trong quan hệ với những người khác?

  • Tôi mong đợi những người khác hiểu các cảm xúc của tôi
  • Tôi mong đợi những người khác đoán biết trước các nhu cầu thiết yếu của tôi
  • Tôi mong đợi những người khác chịu trách nhiệm trong việc giúp đỡ thật nghiêm túc, đàng hoàng

Giữa những gì mình mong đợi về người khác và những gì người khác đích thị làm cho mình, có một khoảng cách mênh mông. Mình dễ cảm thấy mệt mỏi, ngao ngán, bực bội, và quá chừng cáu gắt và đánh giá thấp.

Các ‘mong đợi, kỳ vọng’ chúng ta về người khác thi thoảng mới đáp ứng, trừ khi đầu tiên, trước hết mình có một cuộc trao đổi, trò chuyện và phát hiện, tìm ra sự bằng lòng thường thấy về các kỳ vọng tương tự thế. Trải nghiệm quen thuộc là người ta kém cỏi để truyền thông, giao tiếp cho thật tốt, bởi niềm tin rằng những người ‘nên’ biết.

Thử cân nhắc điều này nhé:

  • Phải trả phí tổn cảm xúc, chịu đựng thiệt thòi sao khi mình mong đợi người khác thỏa mãn các nhu cầu mà mình chưa từng đề nghị bao giờ?
  • Tại sao người khác nên biết những gì mình mong đợi, liệu họ buộc phải là người đọc được tâm trí con người?
  • Những gì mình nhận thấy thách đố nhất về chuyện đề nghị được giúp đỡ khi phát hiện, hiểu rõ rằng họ không có khả năng đọc được tâm trí mình?

Đề nghị được giúp đỡ là:

  1. một dấu hiệu mạnh mẽ, chứ không phải sự yếu kém
  2. một sự thừa nhận về các nguồn lực mà những người khác (đối tác, thành viên trong gia đình, bạn bè, cộng đồng lớn hơn) sở hữu và cống hiến, dâng tặng họ có thể tiến hành cho sức khỏe và trạng thái an lạc của ta
  3. một cơ hội triển nở bản thân
  4. điều cần thiết cho một mối quan hệ lành mạnh
  5. một dạng thức hòa nhập và khuyến khích đối với những người khác

Có một hay các lý do nào bên trên cho việc không dám đề nghị được giúp đỡ bạn phát hiện ra ở chính mình? Tại sao bạn không dám quả quyết đề nghị được giúp đỡ ngay trong tuần này? Đó có thể là chuyện nhấc điện thoại lên và tiếp xúc với người bạn đó, hoặc gọi đến đường dây trợ giúp đặc biệt. Hoặc tiến hành một vài nghiên cứu trực tuyến đặng tiếp cận với nguồn lực bạn thấy cần thiết. Hoặc đơn giản ngồi cùng đối tác hoặc thành viên gia đình bên tách trà, café rồi kể cho họ nghe những gì bạn đang cần giúp đỡ. Cũng có thể tìm tới sự trợ giúp của giới chuyên môn.

‘Con người không phải là hòn đảo cô độc’ phản ánh sự thật đích thực của mọi người.  Chúng ta cần sự giúp đỡ của ai đó khác, song trước tiên hết, mình phải đề nghị, dám nói ra thành lời hoặc biểu tỏ nhu cầu ấy đã…

Giá trị thực sự của “miễn phí”

Trăm vạn nẻo đường, muôn lối tỏa hương
Trăm vạn nẻo đường, muôn lối tỏa hương

Bài viết “Một góc nhìn về cơm 2000 đồng” đang gây tranh cãi, đa phần theo hướng phê phán trên fb (quan điểm cơ bản tập trung ở đây).

Quán cơm 2 nghìn chính là con cá, nó không giúp được vào trọng tâm của vấn đề.

Ngược lại, mô hình kinh tế này gây cạnh tranh bất bình đẳng, dồn nhiều lao động ngoại tỉnh về trung tâm, làm suy yếu nghị lực bản thân của người tìm đến ăn, rõ ràng chả việc gì phải cày cuốc kiếm ăn mửa mật, khi mà ăn 1 bữa no tới 24 giờ kế tiếp?

Vậy hãy phân vân một chút, điều gì sẽ xảy ra nếu có một trăm quán cơm “2000 đồng” như thế?

Làm thế nào “miễn phí” có thể tạo nên giá trị thực sự?

Trước hết, thường thì các tổ chức từ thiện có hai mục tiêu chính: một, làm lan rộng sự hiểu biết về một vấn đề cụ thể; hai, trợ giúp vấn đề.

Các hội cứu trợ chuyên về môi trường chẳng hạn, giúp người ta học hỏi các hiểm họa đối với khí hậu và tính mỏng manh của hệ sinh thái trái đất.

Còn tỷ dụ, một ngân hàng thực phẩm nói chung thì nhắm tới nuôi sống những người nghèo đói.

Khi mục tiêu của một hội từ thiện là giúp đỡ mọi người thì rồi đây mọi người càng biết nhiều về nó, người ta sẽ càng quan tâm để cho tiền nó. Ý tưởng: khi mọi người biết nhiều về hội từ thiên, họ sẽ giả định rằng hội ấy phải làm nhiều việc tốt, và vì vậy, tiền của họ sẽ được sử dụng rất tốt lành.

Khi mục tiêu của một hội từ thiện là mở rộng nhận thức thì khi mọi người biết nhiều về nó, điều ấy có thể thực sự gây hại. Ý tưởng: nếu một vấn đề đã đích thị thấu hiểu rõ ràng rồi thì hội từ thiện có thể không nhất thiết cần họ giúp đỡ để mở rộng nhận thức thêm nữa.

Được nói chuyện với anh Nguyễn Hồng Ánh (banbe6x), người Quản lý quán cơm, tôi càng thấm thía những suy nghĩ tuyệt vời của các anh chị sáng lập và điều hành quán cơm này. Các anh chị chủ trương rất rõ ràng, cung cấp suất ăn cho những người nghèo khó không phải là mục đích cuối cùng mà trên tất cả là cung cấp cho họ hương vị của lòng tốt, lòng nhân ái, và để rồi lòng nhân ái này sẽ lan toả đi khắp nơi…

Quay lại với câu hỏi nêu ra bên trên. Tính khoa học hấp dẫn của nó là như này: khi chúng ta nhìn thấy một người hoặc một tổ chức chăm sóc, quan tâm những người khác thì điều này có thể khiến bộ não mình phóng thích hóa chất thần kinh oxytocin. Và khi oxytocin được phóng thích, chúng ta cảm thấy một sự gắn bó. Nói khác đi, oxytocin là hóa chất cơ bản cho các khách hàng trung thành; bởi thật khó khăn để không ưa thích một công ty đang truy cầu để làm điều tốt.

Cũng cần biết rằng, con người bị thúc đẩy bởi nhiều điều khác nhau trong những thời điểm khác nhau; đôi khi họ nhắm tới việc nhận được phần tốt nhất cho bản thân; lúc khác họ lại bị kích động bởi lòng bi mẫn và sự rộng lượng. Nói như nhà quản lý trứ danh Peter Drucker thì con người ta “gồm nhiều loại khác nhau, thường là khó đoán định, luôn luôn đa chiều kích”.

Như thế, quan tâm tới cộng đồng là cách thức thông minh để duy trì một khách hàng luôn sẵn lòng cam kết trung thành với mình. Và nếu chú trọng quan tâm cả đến khía cạnh sức khỏe của khách hàng thì càng tuyệt vời.

Mặt khác, làm điều đúng cho những người khác hàm nghĩa rằng mình giúp đỡ người ta khi họ đang cần. Đấy là tình huống cả hai cùng thắng (win – win) vì đó cũng là điều đúng ta làm cho chính bản thân mình nữa.

Đã đến lúc, thay vì nói “hãy cho chúng tôi biết bạn là ai, chúng tôi có thể quyết định bạn đã đủ tốt hay chưa”, hãy khẳng định với nhau rằng “hãy cho chúng tôi biết bạn là ai, chúng tôi có thể giúp bạn trở thành con người đó”.

Deepak Chopra đã nói về nghệ thuật cho tặng:

Mỗi quan hệ là một dạng của cho và nhận. Cho khởi tạo việc nhận, và nhận nảy sinh việc cho. Những gì đi lên phải rơi xuống; những gì thoát ra phải quay về. Thực tế, nhận là điều tương tự cho vậy, bởi vì cho và nhận là các khía cạnh khác nhau của dòng chảy năng lượng trong vũ trụ.

Cuộc đời vốn đầy rẫy nghịch lý, và như Kent M. Keith chỉ ra: Nếu bạn làm điều tốt, bạn bị cáo buộc là đang che giấu ngấm ngầm động cơ vị kỷ nên hãy cứ làm điều tốt như thường nhé!

Tưởng nghĩ gì khi nhìn thấy tiền rơi trên đường, và kẻ khác thụt két quỹ công ty ?

Những phiền muộn được mùa, nơi lòng người ấp ủ...
Những phiền muộn được mùa, nơi lòng người ấp ủ…

Giả sử tôi nhìn thấy ví tiền rơi trên phố và quyết định không nhặt lên, phòng trường hợp chủ nhân của nó quay lại tìm ra, vì gì gì chẳng phải tôi sở hữu…

Tuy vậy, nếu nhặt nó lên, tôi có thể cúng dường hoặc ủng hộ cho quỹ từ thiện; kẻo lỡ ai đó khác lượm được, họ có thể thủ riêng cho bản thân. Trong trường hợp ấy, liệu để mặc tiền không chạm vào là đang ‘trợ giúp’ người đó tạo nghiệp xấu, và do vậy, bản thân tôi cũng vạ lây?

Nếu bạn nhặt tiền lên, ngay cả để làm từ thiện, rồi khi chủ sở hữu quay lại không thể tìm thấy nữa, điều đó có thể không tử tế cho lắm, ngay cả chẳng phải dành cho chính bản thân mình.

Tốt hơn là giữ tiền, đợi chủ nó quay lại. Nếu số tiền đáng giá, nên cầm lấy rồi đem đến báo cảnh sát. Nếu số tiền không lớn lắm và mình chẳng đợi lâu nổi, thử nhìn xung quanh, có vẻ khách qua đường tuyền chính trực cả thì ổn thỏa là cứ để nó ở chỗ cũ. Nếu nơi chốn ấy không thế thì khôn ngoan hơn là đem quyên cúng.

Nghiệp (karma) được tạo tác bởi hành động cố ý, chủ tâm.  Như vậy, nếu không có ý định cho những người khác để tự họ nhận tiền, không tạo ra nghiệp xấu. Sự thật, thậm chí một số cảnh sát có thể tham nhũng; dẫu thế, nếu mình chuyển tiền tới cảnh sát với dự tính để nó quay về với chủ sở hữu, kể cả nó bị bỏ túi hết sức bí mật, về phần mình không có nghiệp xấu.

Dĩ nhiên, nếu chắc chắn rằng nó sẽ bị đánh thó khi chuyển nó qua, điều này tạo nên nghiệp xấu.

… Những suy tư dính dáng dự tính đạo đức trên cũng nảy nở và ứng dụng tương tự với tư cách độc giả lẫn người trong cuộc qua câu chuyện kèm hình ảnh đọc thấy về nhân vật Mr. Dam và lão nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9.

Liệu mình có nên phát ngôn làm hại người khác để làm sạch nghiệp xấu của họ?

Thảng hoặc khi những điều hết sức tồi tệ xảy đến với ai đó (nghiệp nặng) thì thiên hạ dễ tự tin phán ngay rằng “Đó là nghiệp chướng của mày. Mày phải trả giá cho những gì từng thể hiện xấu ác trong quá khứ.” Nói khác đi, người ta cơ chừng đang phát biểu: “Đáng kiếp mày!” Đích thị là một lời quá chừng khủng khiếp; nó đem muối chà xát vào nỗi đau kẻ khác, trong khi chẳng trợ giúp điều gì thực tiễn.

Sự thật, cũng nên trợ giúp cho những ai thừa hưởng nghiệp tốt nữa. Hãy lắng nghe thật tỉnh thức trái tim mình, và đừng đòi hỏi công bằng một cách dại dột, mù quáng cho bất kỳ hạt giống phá hoại và sự chây lì, bất động không hề mang tinh thần xây dựng nào; nên thay thế nó bằng công cụ hậu thuẫn cho điều thiện lành.

Biểu đạt sự ghét bỏ, thù hận là nuôi dưỡng, bổ sung dầu cho ngọn lửa bùng to lên mà như thế, càng tạo nhiều nghiệp xấu thêm lên. Khi ai đó đau đớn cho kẻ khác, thực sự họ cũng làm cho nghiêp xấu của chính bản thân chín muồi. Song chẳng cần thiết đớn đau vô ích bởi vun bồi, chăm sóc cho sự hận thù, ghét bỏ. Chỉ thực hiện, tiến hành làm điều đúng đắn ở tình huống đúng với sự khôn ngoan và tuyệt không thù hận, ghét bỏ.

Liệu mình cứ để mặc cho nghiệp biểu tỏ sự công bằng?

Một bà nọ thấy đồng nghiệp nam đều đặn và kín đáo thụt két công ty. Khi tài khoản cá nhân của anh ta tăng vụt, bà này đã không tố cáo, sợ rằng anh kia sẽ phủi bỏ đơn giản sự cáo buộc và thậm chí khiến cho cuộc đời bà ta khốn khó hơn.

Để tránh dội ngược, giải pháp là bà ta có thể tố cáo nặc danh lên lãnh đạo cấp cao hơn. Tuy thế, bà ta chỉ nuôi dưỡng sự oán giận anh kia, trong khi cứ huênh hoang kể lể không ngừng về tên trộm với bạn bè và gia đình mình, càm ràm phù phiếm với ai khác, hơn là với những người cần nghe thấy. Khi được khuyến khích tố cáo, bà ta đơn giản bảo rằng mình tin chắc vào quy luật nghiệp quả, rằng kẻ xấu ác rồi ra trước sau cũng phải gánh chịu trái đắng cho hành động của họ, và rằng nếu bà ta tố cáo tên trộm thì có thể tạo nghiệp xấu cho bản thân vì anh kia còn nghĩa vụ phải chăm lo gia đình riêng. Bất hạnh thay, đa phần vì sự biển thủ trên, công ty bị phá sản sau đó!

Đây là ví dụ điển hình cho việc hiểu nhầm và ứng dụng sai trái tác động của nghiệp quả. Sự thật, với đủ thời gian, với chuyện vắng bóng ăn năn và các điều kiện hiện diện thích hợp, cánh tay dài ngoẵng của nghiệp  quả đang dần chạm tới và túm bắt gã đàn ông tội lỗi. Vậy, mối nghi ngại của người phụ nữ kia là gì? Lỗi lầm lớn nhất của bà là chần chừ không chỉ ra tội của anh kia, do đó cho phép quan hệ của họ duy trì dây dưa mãi.

Điều làm hại ở đây? Vô cảm bởi sự im lặng để mặc anh kia đánh thó công quỹ dẫn tới công ty đổ sụp, kéo theo nhiều người mất việc làm, kể cả bà ta. Đấy là cách thức phá hoại mà tội lỗi không bị ngăn trở có thể dẫn đến.

Nghiệp xấu tạo nên chỉ khi dự tính hành động là xấu xa, dựa trên tham lam, thù hận và điên đảo hoang tưởng. Nếu người phụ nữ định vị vấn đề mà không kèm theo ba thứ độc dược vừa nêu, thay vào đấy bằng sự từ bi và khôn ngoan cho gã đàn ông kia, gia đình anh ta và công ty thì bà ta sẽ không tạo nên nghiệp xấu nào khác. Nghịch lý thay, phát ngôn của bà ta được khởi động bởi sự thù ác với việc làm tàn hại của gã kia đã kiến tạo nên nghiệp xấu!

Rắc rối hoặc phiền phức, chúng ta là chủ nhân sở hữu của nghiệp chính mình.

Một cách tiếp cận đáng quan tâm trong các mối quan hệ thân tình

Giữa bao la trời đất, lòng người thừa ngục thất
Giữa bao la đất trời, lòng người thừa ngục thất

Đó là chu kỳ xà quần lại gần – lảng tránh (AAC); cũng có thể được biết đến như kiểu động năng kẻ theo đuổi – người giữ khoảng cách, quan hệ đẩy – kéo, sự phủ tràn đối lập với sự hờ hững.

Nói chung, đấy là một dạng kiểu mẫu hình hợp trội trong những mối quan hệ mà một người thì muốn nhiều hơn điều gì đó (hoặc muốn kẻ kia thay đổi ít nhiều này nọ): người theo đuổi, và cá nhân khác kháng cự hoặc thu mình: kẻ giữ khoảng cách.

Dạng thức nêu trên còn dễ được mô tả ví von rằng hai người “gắn bó với nhau bằng một khoảng cách bất di bất dịch”. Khi người theo đuổi tiến tới trước thì người giữ kẻ lại lùi ra sau; khi người giữ kẻ thu mình, người theo đuổi bị thôi thúc dấn bước lên.

Trong khi mọi người cần một sự cân bằng uyển chuyển và sống động giữa gắn bó và tự trị ở đời, công thức lý tưởng không khó thấy là sẽ có khác biệt từ người này đến người khác. Khi một người trong mối quan hệ muốn gắn bó nhiều hơn và người kia muốn tự trị thêm lên thì đây thường là cơn bão hoàn hảo cho một hiện tượng AAC phát triển, bùng vỡ. Với các cực đoan của nó, AAC thừa khả năng phá hủy một mối quan hệ bởi vì nó trở thành cuộc “chiến tranh” không ngừng nghỉ, xảy ra liên miên đủ khiến người trong cuộc cảm thấy kiệt sức, mệt mỏi và theo thời gian, tạo dựng nỗi niềm oán giận ở cả hai bên.

Dạng thức AAC có thể là mẫu hình uốn thành vòm toàn bộ mối quan hệ hoặc nó chỉ xảy ra sâu xa với vài vấn đề gây tranh cãi rất nóng sốt.

Trong hôn nhân, các vấn đề hay gặp bao gồm tình dục, tiền bạc hoặc cách làm cha mẹ; chẳng hạn, một người cơ chừng muốn tần suất ân ái tăng lên hoặc muốn dành thời gian chủ yếu cho con cái, học cách quản lý tài chính giỏi giang, tập trung cho việc nội trợ, nhà cửa hoặc muốn hẹn hò bên ngoài, đi chơi nhiều hơn…

Trong các gia đình hoặc tình bằng hữu thì nó có thể dính tới mức độ tiếp xúc cá nhân hoặc tầng bậc dấn vào đời riêng người khác; chẳng hạn, tần suất một người con đã trưởng thành đến thăm viếng bố mẹ hoặc mức độ bạn bè tin tưởng thể hiện dành cho nhau.

Đấy là sự lôi kéo, quyến rũ mỗi người nghĩ rằng họ đúng và kẻ kia sai, song đích thực nó thường là vấn đề của khung tham chiếu riêng và cả hai phải chịu trách nhiệm về phần mình với chuyện kéo dài dây dưa ấy.

Trong AAC, người theo đuổi muốn nhiều tiêu điểm cho “chúng ta” và kẻ giữ khoảng cách thì muốn nhiều tiêu điểm tập trungcho “tôi”. Người theo đuổi dường như đặc biệt tỏ ra chức năng khống chế mối quan hệ, còn kẻ giữ khoảng cách lại không nhiệt tình đảm trách, lơ là chức năng.

Nỗ lực của người theo đuổi muốn làm cho kẻ lảng tránh “lên tàu, xuất phát” tạo cảm nhận như sự trình diễn, gây áp lực, kiểm soát, hoặc phủ trùm đối với người giữ khoảng cách. Sự kháng cự của người giữ khoảng cách tạo cảm giác giống việc chối từ, ruồng rẫy hoặc thiếu vắng niềm yêu thương/ quan tâm chăm sóc đối với người theo đuổi. Mỗi người dần trở nên ngày càng cố đào hào, dựng tường lũy thủ thế riêng và họ tạo thêm nhiều giả định lẫn đánh giá về các động cơ, dự tính của người kia. Mỗi một người lại gắng sức để giành “phần thắng”, do đó làm ra một trận chiến đầy tiềm năng cho các tai nạn, thương tích nghiêm trọng kèm theo. Không bị ngăn cản hoặc kiềm hãm, sự phá hủy có thể thành chuyện tất yếu, không thể đảo ngược.

Tin tốt lành là nếu một trong hai bên chí ít nhận ra và đập gãy mẫu hình ấy từ khá sớm ban đầu, mối quan hệ dễ được cứu chữa vừa kịp thời và hiệu quả. Chắn đứt mẫu hình nghĩa là người theo đuổi chấm dứt việc rượt đuổi hoặc kẻ lảng tránh thôi giữ khoảng cách nữa.

Nói khác, người theo đuổi giảm thiểu tiêu điểm “chúng ta” và tăng thêm sự tập trung cho “tôi”. Họ dừng chuyện mong đợi nhau thay đổi và tập trung nhiều hơn những gì thực sự đang diễn tiến với sự kiểm soát, điều chỉnh (suy tư, cảm nhận và hành vi mỗi người). Hoặc người giữ kẻ kia kết thúc vụ thu mình, chống kháng rồi khởi sự trải lòng ra với người theo đuổi hay tạo nên vài nỗ lực thấy được của ước muốn thay đổi. Cả hai cá thể gắn bó bằng một khoảng cách bất di bất dịch như thế, khi một người dừng đẩy hoặc kéo thì thường kẻ kia sẽ hưởng ứng phù hợp theo cùng.

Không hề đơn giản để làm tình hình chuyển biến chút nào khi hành vi đã thâm căn cố đế vậy rồi. Cũng rất khó khăn để từ bỏ những hành vi ấy khi tồn tại một nỗi sợ mạnh mẽ của việc bị ruồng rẫy, bỏ rơi hoặc giữ kẻ. Trong những tình huống tương tự, một nhà tâm lý có kinh nghiệm trong trị liệu gia đình hoặc hôn nhân có thể trợ giúp một bên hoặc cả hai vượt thoát tiến trình. Dĩ nhiên, thậm chí cũng có một nguy cơ là khi mẫu hình bị bẻ gãy, một hoặc hai người có thể còn duy trì tiếp tục sự bất mãn với mối quan hệ khiến khó hòa giải các nhu cầu, mong muốn và giá trị khác biệt nhau.

Nỗi sợ mơ hồ

Chụp ảnh, gọi điện và xem chơi nhà mồ Tây Nguyên cạnh bóng cây muồng hoàng yến
Trong Bảo tàng Dân tộc học, du khách chụp ảnh, gọi điện và xem chơi ngôi nhà mồ Tây Nguyên cạnh bóng cây muồng hoàng yến

Người đàn ông tóc hoa râm ngồi đó, kể say sưa thành tích học tập của cậu con trai hồi còn ở nước ngoài; về điểm số, thành tích và giải thưởng… Ông không quên liên kết từ hồi thơ bé, khi cả chàng và cô em gái đều chỉ tự học ở trường làng, ôn luyện ngoại ngữ ra sao, thi đỗ vào Kinh tế Quốc dân…

Quán café vắng người. Nhân viên phục vụ lười nên bảo không có filtre; tôi dễ dãi đồng ý cho nhanh hình thức pha sẵn và bảo mình chịu, không biết người đi cùng quyết định ra sao… Ông vẫn giữ ý định đòi nâu nóng pha filtre.

Kết cục, tách filtre café được chủ ý đẩy về phía tôi. Và người đàn ông ấy tiếp tục nỗi băn khoăn khó tả tại sao con trai của ông giỏi giang và lành mạnh thế, giờ quay lại nhà thì bỗng dưng chuyển sang chỉ muốn ngồi thiền cả ngày, bày tỏ ý định đi tu, chẳng thiết làm việc kiếm tiền nữa. Lẽ nào chừng ấy thời gian học ở Mỹ về Luật kinh tế lại vứt xó… Ông không hiểu nổi điều gì đã khiến con trai mình mê thiền, thích đạo Phật đến độ quay ngoặt quyết định như vậy khi chỉ tình cờ tham dự một khóa học do nhà trường tổ chức cho sinh viên ở bên ấy.

Người đàn ông mở Smartphone cho tôi nghe một đoạn ghi âm đối thoại với giọng con trai. Ông trả lời rằng con trai ông biết và đồng ý để ông bật máy…

Thái độ, niềm tin và giá trị. Không đơn giản là câu chuyện xung đột giữa cha và con, về kỹ năng truyền thông liên nhân cách và gia phong, về sự hy sinh thầm lặng và kỳ vọng sâu xa, ước muốn bảo bọc cùng lo lắng sợ con trai lầm đường lạc lối; người đàn ông ngồi đây với khuôn mặt hoang mang bởi không thể hiểu nổi một tương lai tưởng chừng đã được sắp đặt khá bài bản, lý tưởng bây giờ rất có nguy cơ đổ sập tất thảy…

Tâm linh, tôn giáo và cái gì đó vượt lên trên khao khát đời thường cơ chừng còn quá xa lạ. Làm thế nào người bố cũng như các thành viên trong gia đình ấy học hỏi cách để chấp nhận một lựa chọn có vẻ quá khác thường, đủ bao dung và hiểu biết đặng tạo tác bầu không khí cởi mở, yên bình và hạnh phúc cũng như an toàn, êm ấm ngay cả khi một ai đó cất bước ra đi đến bờ bến mới?

Tiến trình tâm linh- trị liệu này chắc chắn sẽ đảm bảo phơi tỏ, bộc lộ mâu thuẫn của thân chủ với bố mẹ và em gái trước tiên là sự khác biệt song sau này truyền thông tốt hơn lên, họ không khó tìm thấy một mối quan tâm chung: làm sao ổn thỏa nếu cứ kiên quyết chối bỏ, chẳng dám thừa nhận rồi sống với thôi thúc nội tâm siêu việt?

Nghĩ về một truyền thống, trên xe bus, tôi nhớ ngay tới bộ phim tuyệt vời từng được xem chưa lâu lắm.

* Đọc thêm:

Ken Wilber. (2000). Grace and Grit: Spirituality and Healing in the Life and Death of Treya Killam Wilber. Boston: Shambhala

Thor Johansen. (2010). Religion and Spirituality in Psychotherapy: An Individual Psychology Perspective. New York: Springer.

“Săn đuổi giấc mơ”: có cần bỏ việc, hay nhất thiết phải nhảy ùm một cái?

Vận đỏ bướm vàng ai có thấy, tháng ngày bồi lở nước xuôi dòng
Vận đỏ bướm vàng ai có thấy, tháng ngày bồi lở vẫn xuôi dòng

Chàng trai Vũ Xuân Tiến đã chạy bộ 8km theo xe bus để xin chữ ký và bởi mong mỏi gặp mặt trực tiếp với thần tượng mình hâm mộ.

Sự kiện này được khai thác dưới nhiều góc độ: truyền thông, tiếp thị, bóng đá, thậm chí gắn với tâm bình yên.

Người ta nhắc tới lời kêu gọi nổi tiếng của Steve Jobs và dĩ nhiên, không thể bỏ qua câu chuyện sát sườn là bài học văn hóa thần tượng.

Lướt nhanh báo quốc nội xoay quanh vụ kể nhân vật đang là sinh viên ngành Dược được đưa rước bằng ô tô kèm bảo vệ riêng khi đến sân vận động Mỹ Đình, rồi lời mời làm việc của một công ty với mức lương ngàn Mỹ kim, bất chợ liên tưởng ngay phát ngôn khá quen thuộc phù hợp bối cảnh này, đại khái kiểu “bỏ việc để săn đuổi ước mơ“.

Nghe ai nói vậy thì thiên hạ thường dễ lập tức nổi lên hai cảm xúc trộn lẫn. Một, phấn khích lắm í bởi vô cùng ngưỡng vọng kẻ máu me, đam mê đến vậy; những điều gây xúc động vốn xảy đến khi ai đó dám rời khỏi vùng thoải mái quen thuộc và tạo ra không gian mới để đạt được ước mơ của mình. Thứ đến là sợ hãi, do tự hỏi đầy băn khoăn vu vơ rằng sẽ ra sao nếu ước mơ ấy không thực tế nhỉ, lấy gì sống trong quá trình vươn tới các vì sao, và hậu quả tác động thế nào đến gia đình đó?

Đúng là có quá nhiều người từ bỏ dở dang, nửa chừng việc theo đuổi, săn tìm cho bằng được các ước mơ. Họ kết thúc bằng việc ngoái lại nhìn với cái thở dài thườn thượt đầy nuối tiếc.

Cơ chừng, thẳng thắn hết mức thì phải thừa nhận mình nợ bản thân và cả thế giới này nếu không đeo đẳng đến cùng cái ước mơ ấy.

Không theo đuổi ước mơ, vô hình trung, kiến tạo một vệt hư hỏng, mòn hại trong lòng. Song dù quả là mắc nợ trầm trọng khi không theo đuổi, nào nhất thiết phải gây nên đổ vỡ, tàn phá kinh khủng mọi thứ xung quanh và quan hệ nọ kia ngõ hầu đạt bằng được ước mơ cháy bỏng.

Sống có trách nhiệm do đó, nghe chẳng mê tơi và hấp dẫn tí nào so với “săn đuổi ước mơ”, vẫn cứ đích thị quan trọng ghê gớm.

Chuẩn bị kế hoạch dự phòng khi bắt tay vào cuộc. Những gì mình có thể làm- trong tình huống hiện tại- với khoảnh khắc và vị trí tốt nhất vào lúc đó khi mình bỏ mặc hết để dấn thân săn đuổi ước mơ?

Mình liệu không bao giờ cần thiết phải từ bỏ công việc, địa vị đang sở hữu khi vẫn giữ quyết tâm săn đuổi cuồng nhiệt ấy?

Nhiều người đã biến ước mơ thành sự thật thông qua nghề nghiệp, công việc họ tự mình làm chủ, chứ không phải nhận tiền lương do người thuê mướn lao động chi trả.

Dẫu thế, đôi khi cần tiến hành nhảy ùm một cái! Đảm bảo mình giật mình đôi chút với quyết định đó; nhận ra nỗi sợ cũng như biết ai đang quan tâm mình không bao giờ thừa thãi, lãng phí tâm trí cả.

Và dĩ nhiên, lời cuối, bất kỳ ai trong xã hội dân sự bây giờ nếu muốn lao theo ước mơ quyến rũ (nếu pháp luật không ngăn cấm thì vẫn nên được cộng đồng hiểu, tin và tôn trọng) có thể thêm vào những gì bên trên thứ trải nghiệm đặc thù cùng cái nhìn riêng có của bản thân.

Cấu trúc gia đình, xã hội hiện đại và thực trạng đang thách thức tất cả chúng ta

Khi nhiệt lượng và nguồn lực tạo nên tổ ấm đã khác trước...
Khi nhiệt lượng và nguồn lực tạo nên tổ ấm đã khác trước…

Tình cờ đọc thấy bài phỏng vấn ông Phó Vụ trưởng Vụ Gia đình (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) nhân Ngày Gia đình Việt Nam 2013.

Những nhận định của lãnh đạo, phần nào cho thấy quan điểm nhìn nhận và định hướng chiến lược quá chung chung, nói hoài nghe mãi và nhất là chẳng phản ánh thật đúng đắn diễn biến phức tạp với nhiều biến động trong cấu trúc gia đình với xã hội hiện đại ngày nay.

Xã hội hiện đại khiến con người quay cuồng làm giàu, thu vén lợi ích, hưởng thụ cá nhân khiến đôi khi người ta quên mất giá trị gia đình, xao nhãng con cái, vợ chồng ít có thời gian dành cho nhau… Đó là nguyên nhân khiến cho chức năng giáo dục, chức năng tình cảm bị giảm sút.

Ngay cả người làm chuyên môn thì cũng thể hiện cái nhìn lớt phớt, tiếp tục chia sẻ nỗi niềm nuối tiếc mô hình gia đình truyền thống đi kèm với cái nhìn rằng gia đình hiện đại rất nhạy cảm, dễ bị tổn thương.

So sánh gia đình trẻ với gia đình truyền thống, TS Lệ Hằng cho rằng, vì những yếu tố trên mà sự bền vững của gia đình hiện đại bị đe dọa, tỉ lệ đổ vỡ trong hôn nhân gia tăng, con người dường như thiếu tin tưởng vào hôn nhân, dễ dàng chấp nhận những gia đình khiếm khuyết như làm mẹ đơn thân, ly hôn thậm chí là quyết định không kết hôn.

“Gia đình hiện đại rất nhạy cảm, dễ bị tổn thương. Trước đây, một gia đình truyền thống với nhiều thế hệ sống chung thường có tôn ti trật tự, những giá trị văn hóa được bồi đắp như “kính trên nhường dưới”, có được sự chia sẻ, điều hòa trong nếp sống và ứng xử giữa các thành viên ông bà – cha mẹ – con cái.

Còn một gia đình hiện đại chỉ có cha mẹ – con cái… tuy được độc lập về kinh tế, tự do về không gian nhưng thiểu hẳn đi cái phông văn hóa truyền thống, thiếu đi một “nếp nhà” cần thiết để tiết chế những mâu thuẫn, xoa dịu và giải quyết những bất đồng. Người trẻ khi đứng trước quyết định lập gia đình chưa biết cách trang bị kiến thức, kỹ năng khoa học và tâm lý để đối diện với những vấn đề phức tạp hậu hôn nhân” – TS Lệ Hằng phân tích.

Ở đây, trước mắt sẽ tập trung chỉ ra hai vấn đề cơ bản là chuyện người làm cha mẹ đang bị áp đảo khủng khiếp trước đổi thay của đời sống và hiện tượng các gia đình có mẹ rời gia đình, đi làm xa.

Đầu tiên, cảnh mẹ đi làm xa, thường xuyên vắng nhà và bố trở thành người đảm đương bếp núc, quán xuyến mọi thứ của gia đình không chỉ xảy ra ở đô thị mà còn là chuyện dễ bắt gặp ở nông thôn.

Ở Việt Nam, cơ chừng không hề nảy sinh xung đột quá lớn về các khía cạnh triết lý, đạo đức và kinh tế trên tiến trình hỗ trợ phụ nữ dấn thân giành quyền bình đẳng. Song vẫn còn hiện diện đó đây thật nặng nề mâu thuẫn giữa các bà mẹ, những người phụ nữ làm công ăn lương ở bên ngoài xã hội và đối tượng đặt để vai trò mình chủ yếu là quẩn quanh phục vụ trong nhà.

Chủ nghĩa nữ quyền và phong trào bình đẳng giới đã cho chị em một sự lựa chọn làm những gì họ muốn với tư cách nữ giới– không bị ràng buộc bởi các cấu trúc và định kiến xã hội mà còn được gây cảm hứng mãnh liệt từ những sự tự do về xã hội và văn hóa vốn không hề xuất hiện trong lịch sử dân tộc trước đây.

Dữ liệu tiếp tục được nạp vào và nó không thay đổi bao nhiêu: bất chấp những thứ tự do như thế, phụ nữ vẫn cứ tiếp tục bị mắc kẹt trong sự chuyển đổi hệ hình lần thứ hai với vô số việc lặt vặt không tên trong nhà so với cánh đàn ông, ngay cả khi sự cân bằng ấy đã đổi thay ít nhiều qua mấy năm trở lại đây.

Chúng ta cũng đang chứng kiến những người phụ nữ, vì các lý do nghề nghiệp, duy trì một sự xa cách thường trực với con cái mình để chúng sống với bố; sự lựa chọn này có thể làm hình thành một quan hệ hôn nhân hoặc về sau là sự đổ vỡ, ly dị.

Những người phụ nữ này đặc biệt tổn thương trước sự đánh giá của người phụ nữ tự hỏi làm sao là hình mẫu yêu thương khi rời bỏ con cái để theo đuổi một cơ hội nghề nghiệp– một cơ hội mà không ít đàn ông cũng từng thực hiện dài hạn.

Tuy vậy, các ông bố mong đợi việc mình hy sinh mối quan hệ với con cái và các bà mẹ lựa chọn con cái là trên hết. Và trong khi các ông bố sẽ nhận được lời tán tụng cho khả năng gà trống nuôi con thì các bà mẹ sẽ thường trở thành đối tượng bị săm soi, đánh giá, tức giận và thậm chí, bị đả kích chua cay nếu cô ta, bà ta lựa chọn ước muốn trao cho chồng mình trách nhiệm chủ yếu làm cha mẹ. Không có nhiều sự khác biệt giữa lựa chọn này với việc gửi con cái đi học nước ngoài, trừ khi đứa trẻ sống với bố nó.

Thông tin mới nhất cho hay, 50% hộ nông dân phải đi vay nợ; mỗi năm họ chỉ tiết kiệm được chưa tới 8 triệu đồng và người ta giật mình trước thu nhập của 70% dân số Việt Nam.

Rốt ráo, mỗi phụ nữ và gia đình họ phải lựa chọn cách nào tốt nhất cho gia đình cũng như cho chính bản thân; có nhiều cách để nuôi dạy một đứa trẻ và có nhiều cách để hạnh phúc. Có điều không nhất thiết phải đổ lỗi, cảm thấy tủi hổ hay phạm tội.

Lần nữa, khi nhìn thấy vô vàn phụ nữ sang trọng, uy quyền và đảm nhận chức trách tất bật đi công tác liên miên hoặc các chị em buôn thúng bán bưng, quanh năm suốt tháng hầu như bám trụ ở thủ đô để kiếm kế sinh nhai, chấp nhận bỏ mặc con cái và nhà cửa cho chồng ở nhà, tôi nghĩ rằng việc bận rộn, không có thời gian  tuyền đừng xem là chuyện cá nhân, riêng tư.

Tôi không chắc các cặp vợ chồng, bố mẹ trẻ ở Việt Nam có làm việc nhiều giờ hơn các vợ chồng, bố mẹ trẻ ở các nước không, song dễ nhất trí là họ làm việc nhiều hơn thế hệ bố mẹ trước đây.

Trong khi dễ dàng thấy stress nảy sinh do làm việc quá mức hết sức riêng tư thì thực tế các triệu chứng như cáu gắt, trầm cảm, lo lắng và mất ngủ kèm kiệt quệ tinh thần ít là sự thất bại cá nhân so với dấu chỉ bộc lộ các hệ thống xã hội và kinh tế trục trặc về mặt chức năng.

Với cách thức vận hành đất nước bất ổn và nền kinh tế khủng hoảng như hiện nay, thực trạng không đảm bảo an sinh xã hội càng làm cho cấu trúc gia đình thêm phần gây nên bao hiệu quả tiêu cực chung.

Có lẽ, chúng ta dễ tạo được thời gian để sống với chồng/ vợ và con cháu mình theo hướng tập trung nhiều hơn vào chất lượng các mối quan hệ.

Nếu đặt để sang bên các mối quấy nhiễu khác không thể làm mình bị thu hút vào và hoàn toàn cống hiến bản thân dành cho gia đình và người thân xác đáng hơn, nói từ trái tim mình, vui vẻ cùng nhau, và làm việc như một đội nhằm giải quyết hàng đống vấn đề khó khăn xảy đến với mỗi gia đình thì chúng ta có thể giữ vững được khả năng duy trì gia đình an toàn, bền vững.

Bởi việc nhìn thấy bản chất rộng lớn hơn của điều đã đoán định trước rồi, chúng ta đạt được sự thư thái, buông xả. Hàng triệu triệu gia đình đang đau đớn bởi cùng một thách thức như nhau.

Khi cam kết với chính mình nhằm kiến tạo cuộc sống lành mạnh, cân bằng và tích hợp nhiều hơn, chúng ta thậm chí có thể cung cấp một mô hình cho các cặp vợ chồng và gia đình khác đặng cùng chia sẻ các mối quan tâm chung.