Hương nguyệt quế

Nguyệt quế về đêm toả hương dịu nhẹ, bên ngoài khung cửa sổ bé và hẹp như đời người ta vốn luôn kỳ cục thế: được thụ hưởng kép nhiều hơn mức mong đợi vì vô tư lự quá chừng.

Cũng đã thoáng thấy màu trắng gợi mở, cơ mà không chú tâm nhìn ngó kỹ càng các bông hoa. Tưới tắm có, hờ hững có; tưởng biết rồi mà nỏ thấu tỏ gì lắm. Hoa đã từng rơi rụng, hoa nở cùng tiến trình chung đụng trước sau nào đợi bóng hình ai… Ấy là cái nhẽ thô bỉ cài đan vi tế thôi rồi của kiếp nhân sinh: điều phải tới ắt đến. Chưa rõ hạn độ mô nở rộ rộn ràng đồng khởi, lần nữa, mặc kệ vẻ lạnh lùng chi xứ bao vây.

Sá chi nhài, sói; chẳng chấp nê bưởi, mộc… So bì với đã sai trật. Nên thầm thĩ hành lang cho hết thân phận bọt bèo. Sóng nước dạt trôi, cát chảy dưới kẽ tay muôn lối; vinh bại, thành nhục đeo vòng muôn đời cô lẻ. Nguyệt quế e khó hiền lành gìn giữ, bởi lẽ môi trường đâu dễ dành riêng.

Ở Quảng Nam, có chợ Bà Rén vốn chuyên mua bán heo (lợn). Khu vực ấy một chiều thực địa dạo qua lại phát hiện một cái chạn (garde manger) bằng gỗ thương hoài tuổi nhỏ. Trong, trên cái chạn chứa vô lượng no đói, vui buồn; vượt xa gia đình để tiếp chạm dây dưa với nhân loại ‘dĩ thực vi tiên…’ Buổi chiều đuổi chiều rong ruổi kiếm tìm dấu tích cũ xưa, tái xác định địa danh văn hoá cớ răng nguyệt quế mồ côi.

Nguyệt quế bị gán đủ trò lắm chiêu, liên quan tùm lum phong thuỷ kèm tài lộc, vắt sang cả sinh thái thời sự và trừ tà lặng thinh.

Kinh, do sợ. Bấy lâu rảnh rỗi vẫn nỏ hỏi han, tra cứu. Duy nhất không mơ hồ là chi tiết ngôi trường mẫu giáo gần nhà dựng lên tầm 40 năm nay vốn ngát mùi nguyệt quế thật lâu; cây trồng giữa sân to lắm song nguồn cơn, ngày giờ các thứ nâng cấp đủ để chặt bứng nó mất tăm mất dạng.

Hương nguyệt quế quẩn quanh.

Khoảnh khắc dang dở

Khá khó khăn để tìm thấy một khoảnh khắc nào mà không thật dễ dàng abc phân loại.

Cuối năm 2017, đấy là dịp thiên hạ ao ước lập kế hoạch 2018. Các sổ tay ghi chép, nhật ký thiết kế chuyên dụng cùng bút viết và công cụ trợ giúp khác sẵn sàng gợi ý, chí ít vì đó là cơ hội thúc đẩy bán hàng và tăng doanh số kinh doanh. Bán ước mơ trở nên tốt lành, giỏi giang hơn bản thân hằng tưởng hẳn là chiêu thức tiếp thị quá chừng khôn sáng.

Khi lưỡi dao cạo râu chưa chịu thay mới, da cằm lởm khởm; viết theo tâm trạng thay cho tuân thủ lập trình (‘đều đều như vắt chanh’), câu chữ và cấu tứ nham nhở; cả ngại lẫn lười đủ đòi buộc điều chỉnh mà cứ cố đấm ăn xôi cóc chịu thay đổi thì tư thế ngồi thiếu vững vàng vừa hiển lộ bất khả chối bỏ vừa vi tế ẩn tàng dài lâu…

Các chìa khóa, thường ở ngay đầu sổ tay, tạo tác tựa bộ máy có bảng hướng dẫn sử dụng êm xuôi trước một hôm đẹp giời được nhắc nhở đã tới hồi đáp ứng hết sức phi lý.

Cuối năm yến tiệc thân mật là đầu năm thăm xã giao xa cách. Khoảnh khắc dang dở luôn chực lộ ló…

Hanoi, Hanoi (1)

Mọi thứ đang thay đổi, bất kể mọi thứ có thể như nào…

Dòng bên trên ấy lửng lơ mãi vậy đã gần ba tuần nay.

Thói quen hay thế vì Hanoi cưu mang và ôm ấp được những ai mơ hồ ngơ ngác; nó cho phép sự tội nghiệp và những nét vẻ hoang đàng trong đời sống nội tâm có cơ nở nhụy.

Không gian rộng nhất của Hanoi là cái làng lớn, bao quanh bởi các làng bé; lý giải vì sao cả gái xinh lẫn giai tài đều cứ tủn mà tủn mủn, nói tinh tế cũng đúng mà nói giang hồ vặt cũng cấm sai. Thời gian theo đó, dẫu không đi đâu quá xa mà cứ vấn vương ‘thương nhớ mười hai’.

Trái tim tôi, từng bao lần đập thình thịch khi đi tàu, đón xe, ngồi máy bay, từ núi xuôi xuống, dưới biển lên, miền Trung ra hay đơn giản mới rời xa mấy ngày phía bên kia ngoại thành Kinh Bắc.

Không- thời gian ấy giờ đây mất hẳn đi cái tâm tưởng luyến lưu da diết. Chẳng phải hết yêu đâu mà tình thương, cùng bao tháng năm dằng dặc, đột ngột chuyển hóa thành cái gì dịu dàng gắn bó, thôi nhớ nhung đau đáu nữa.

[Tạm thời rứa đã hỉ…]

Nhiều hơn sự hiện diện lúc này…

Hà Nội như nỗi buồn em, ngọn cỏ lau đem rải xuống sông Hồng mặt trời cuối bãi...
Hà Nội như nỗi buồn em, ngọn cỏ lau đem rải xuống sông Hồng mặt trời cuối bãi…

Hồn cốt của một vùng đất không như sấm chớp, nắng mưa để lóe lên, rực rỡ hay dầm dề, rồi tạnh.

Hà Nội trong những năm 1980-3 thật gần gũi, ấm áp và dân dã, dù mãi tôi chẳng hiểu nổi cái cảnh thức cả đêm xách xô chậu xếp hàng hứng nước.

Đâu đó quanh đây, gần mà xa, quen thành lạ. Chúng ta thường hay quên điều thực sự quan trọng dù bất kỳ trò chơi công bằng nào ẩn sẵn bên dưới.

Buồn chán như chính cái sự quên, Hà Nội 30 năm trước đôi khi quá dễ khiến người ta phát điên hồi nhớ những kỷ niệm thời thơ ấu– trong nghèo khó, tự hào và tử tế. Mỗi một lần cố tình lờ đi dĩ vãng, có cái gì chống cưỡng và chứng tỏ trạng thái chẳng hề phù hợp, khít khớp.

Tại sao lo lắng về những gì đang bị lãng quên. Cứ để nó đi vào chốn trắng phớ của thời gian ngưng đọng; và cứ để mặc cái phần mờ tối ấy hoàn thành nhiệm vụ… Bởi nếu nó quan trọng, nó sẽ còn mãi mắc dính, bám chặt vào đâu đó trong lòng.

Nhiều hơn sự hiện diện lúc này, tại đây– Hà Nội.

Chúng ta bị đòi hỏi quá nhiều truyền thống và nghi thức. Lúc trời đang rỉ rả trong đêm, không có gì tốt hơn là đợi xem ai đó sẽ vô cùng ngạc nhiên khi mở ra gói quà hoàn hảo, đầy suy tư.

Dự án Hanoi Spirit of Place giới thiệu tối nay tại Viện Goethe, dù chỉ mới công bố đôi chục bức ảnh đen trắng, đã giữ vai trò khơi gợi trong lòng người biết bao xao xuyến âm thầm như thế.

Vắn tắt về hình ảnh con người trong Tham vấn và cách tiếp cận Tâm linh- trọng tâm Trị liệu

Yêu thương vấn vương giữa đời thường
Yêu thương vấn vương giữa đời thường

Thử xem xét cách thức mỗi trường phái tâm lý trị liệu chính yếu góp vào cho một hình ảnh ẩn tàng về con người (Dryden, 1984; McLeod, 2003) bên trong nền móng lý thuyết của chúng (Lines, 2000).

* Hình ảnh con người của Tham vấn Tâm động (psychodynamic counseling) là thuộc về chức năng hiện thể trên nhiều bình diện nhận thức khác biệt, và dưới các xung năng của nhiều lực lượng đa phần chưa nhận biết được, một số tự chúng làm tỏ lộ những triệu chứng không giải thích nổi– những phòng vệ được dựng lên hết sức vô thức từ giai đoạn đầu đời nhằm bảo vệ và giữ an toàn cho Cái tôi (the Self) khỏi bị tổn thương.

* Hình ảnh con người trong Phân tâm theo kiểu Jung (Jungian analysis) là một hiện thể thông qua tiến trình cá nhân hóa (individuation), như trên một cuộc hành trình tâm linh của trạng thái Cái tôi và đang sinh hoạt dưới các tác động tâm thần của vô thức tập thể (collective unsconscious).

* Hình ảnh con người trong Tham vấn Con người- trọng tâm (person-centered counseling) là một cá nhân như chuyên gia của chính đời sống và trải nghiệm bản thân, như Cái tôi trong một trạng thái đang trở thành, và vốn định hướng bởi một tiến trình sinh thể đáng giá mà trong đó độ căng của quan niệm bản thân (Self-concept) được thiết lập nhằm đảm bảo sống sót trong bối cảnh xã hội.

* Hình ảnh con người trong Trị liệu Gestalt (gestalt therapy) thuộc một Cái tôi dấn thân dưới thôi thúc không ngơi ngớt đặng thỏa mãn các nhu cầu riêng tư khi chúng khởi lên trong môi trường. Cái tôi được nhìn nhận một cách toàn thể cả thân xác lẫn tâm trí theo một chuỗi các hoạt động qua lại hoàn toàn với nhau của suy tư, cảm xúc, hơi thở và ứng xử.

* Hình ảnh con người theo các nhà Tâm lý Hành vi (behaviour psychologists) là một Cái tôi được dẫn dắt phần lớn và động cơ là từ các yếu tố thuộc môi trường, được điều hướng dưới dạng hành vi bởi sự tưởng thưởng chủ đạo hoặc các kích thích mang tính trừng phạt.

* Hình ảnh con người theo các nhà Tham vấn nhận thức- hành vi (cognitive behavioural counsellors) là một Cái tôi chủ yếu có xu hướng, hoặc mang xu hướng hết sức tiềm tàng, bởi các khả năng tư duy và nhận thức.

* Hình ảnh con người trong Trị liệu Gia đình (family therapy) là một Cái tôi như thành viên của một khối thống nhất hơn là một hiện thể tách biệt hẳn, như một liên kết của hệ thống có tương quan và truyền thông qua lại với nhau.

* Hình ảnh con người trong Trị liệu Hiện sinh (existential therapy) như một Cái tôi cá nhân hạn chế đang nỗ lực để sống một cuộc đời đầy năng sản bên trong sự tồn tại đặt định rồi của con người.

Những điều vừa nêu rất chung và mơ hồ, và khó tin là nhiều nhà lý thuyết cơ chừng đã mô tả hình ảnh con người dưới vị thế lý thuyết của họ hoàn toàn khác biệt.

Không cần nói rằng nhà trị liệu tâm động sẽ làm việc với các trục trặc xã hội hiện thời của thân chủ, các triệu chứng thể lý hoặc vấn đề tâm lý thông qua các kháng cự nằm ẩn sâu dưới vô thức chưa được giải quyết và các cơ chế phòng vệ được thiết lập sẵn, bất kể nhà thực hành đánh giá công việc của mình thuộc cách tiếp cận tâm linh hay không.

Trường phái Klein sẽ làm việc dựa trên các động năng của các mối quan hệ đối vật (object relations) có liên quan tới bà mẹ và đứa con, và trường phái Erikson sẽ nhắm vào bố mẹ hoặc trẻ vị thành niên từ viễn tượng lý thuyết của sự lẫn lộn vai trò xảy ra trên tiến trình cá nhân hóa; lần nữa, nó là vấn đề diễn dịch  và phân loại có chút liên quan bất kỳ gì hay thảy đều dính dáng hết đến các chiều kích tâm linh.

Kenneth Gergen (1999, 2001) nhắc nhở chúng ta các cạm bẫy của việc chẩn đoán ‘vấn đề’ và ‘chữa trị’ bên trong các trường phái tinh tuyền lý thuyết hóa được dựa trên các ‘quan sát’ và mối bận tâm tới tâm trí cá nhân về phí tổn chi trả cho Cái tôi xã hội. Ông có lý khi cho rằng:

Các lý thuyết gia cấu trúc luận xã hội về hành động con người không xây dựng hoặc khởi phát lý thuyết của họ từ quan sát mà là từ một cộng đồng những người trò chuyện đã tiếp xúc được. Nó là các thỏa thuận ngầm đã chia sẻ có thể hiểu thấu nằm bên trong vùng bao bọc chuyên môn sẽ quyết định cách thức chúng ta diễn giải thế giới quan sát được.

Thật nghịch lý, trong bối cảnh thế tục đương thời của các phòng tham vấn, trị liệu ngày nay, có một sự miễn cưỡng trong việc dấn thân vào các vấn đề tôn giáo và tâm linh, thậm chí ngay cả khi các thân chủ có thể dẫn dắt nhà trị liệu bước vào các địa hạt ấy. Những chuyển động gần đây trong trị liệu tôn giáo và siêu cá nhân (religious & transpersonal therapy) dần khởi sắc sống động hẳn lên, chứ không còn là một giọng nói than khóc bị bỏ mặc ở chốn hoang sơ nữa.

Giờ là lúc thích hợp để giới thiệu vài ba chỉ dấu cho tâm linh- trọng tâm tham vấn (Lines, 2006).

Trước hết, có hai dạng thân chủ đặc trưng bị tác động bởi việc tỉnh thức và phản ánh về mặt tâm linh là đối tượng tuổi mới lớn và người trung niên.

Dưới cái nhìn của lý thuyết cá nhân hóa (Erikson, 1963; Jung, 1933) thì tuổi mới lớn được xem như thuộc giai đoạn tâm- tính dục bất thường trong thích nghi xã hội, với các dấu hiệu của sự hợp trội tâm linh (Grof and Grof, 1989), và từ quan sát của Jung (1933) là có nhiều đối tượng trong số bệnh nhân ở phía nửa bên kia cuộc đời trên 35 tuổi bộc lộ ra một quan điểm tôn giáo. Wilber (2001) cho rằng Tâm linh có thể được ‘đánh thức với bản chất đích thực riêng có của nó’, hiện diện là một tiềm năng siêu cá nhân của tất cả mọi thân chủ.

Các yếu tố tâm linh không chỉ hiển lộ trong sự trình bày vấn đề khi đến tham vấn mà có thể còn ẩn dưới cách thức thân chủ nhìn nhận thế giới. Các niềm tin tâm linh có thể quyết định sẵn những tùy chọn mang tính đạo đức trong các lưỡng nan hàng ngày (Lukoff et al., 1998).

Trong công việc lâm sàng, như việc mất đi người thân, tình trạng ẩn dật vô danh và tách biệt về mặt xã hội, lạm dụng chất và bia rượu, mập mờ về giới tính và có ý nghĩ tự sát đều được tham vấn với các cách tiếp cận chính yếu theo các mô hình tích hợp và chiết trung (Bergin & Garfield, 1994; Diamond, 2000; Lines, 2006) song đích thị có thể tỏ ra thích đáng không kém khi được nhấn mạnh thông qua tâm linh- trọng tâm tham vấn (Boorstein, 1996; Richards and Bergin, 1997; Thorne, 2002; West, 2004).

Tỷ dụ, chương trình của Elkin (1998) nỗ lực dùng cách tiếp cận của Jung và nhân văn trị liệu theo khía cạnh không tôn giáo của tâm linh, với các giả định sau:

  • chúng ta là độc sáng
  • các nhu cầu tâm linh của chúng ta sẽ thay đổi theo thời gian
  • chúng ta phải lựa chọn một thái độ phiêu lưu cởi mở để đánh giá lại trải nghiệm tâm linh dựa trên trải nghiệm riêng có của bản thân, ghi nhớ rằng công việc của tâm hồn không thể vội vã được
  • và chúng ta phải duy trì sự mở ngỏ đối với tính thiêng (the sacred).

Vậy, khi nào thì các thân chủ đề nghị trị liệu tâm linh?

Thường thấy 7 lĩnh vực quan tâm có thể khiến nhà trị liệu chuyển sang phương thức tham vấn tâm linh:

  • trải nghiệm huyền bí, siêu linh (paranormal experience) thời tuổi trẻ– sự phát triển hồi thơ ấu và tình cờ bắt gặp các ma quỷ, sinh thể tâm linh
  • mất mát người thân– sốc kích thích bởi sự không còn an toàn về mặt cảm xúc và đang thử nghiệm các hệ thống niềm tin
  • vượt qua các trở ngại trong các mối quan hệ– không thỏa đáng khi đương đầu khó khăn với những nhiệm vụ dính tới quan hệ
  • khám phá Cái tôi nội tại– nhận ra các nguồn lực bên trong để đáp ứng một thách thức
  • phát triển nhanh chóng về tôn giáo– tìm thấy sự dũng cảm đặng ‘chịu đựng đơn côi’ mà không hề được che chở về mặt tôn giáo
  • truy cầu ý nghĩa– thiết lập ý nghĩa khi định dạng bản sắc bên trong các vai trò đã không còn kéo dài nữa
  • đương đầu với sự ngừng trệ cá nhân hoặc mất bố mẹ– cái chết của những người thân thiết mở ra cơ hội.

Ba phân loại đầu tiên được áp dụng chủ yếu với đối tượng còn nhỏ tuổi và vị thành niên, trong khi ba phân loại ở cuối đa phần dành cho người trưởng thành, nhất là những ai trên tuổi trung niên. Loại thứ tư có thể hướng đến người đang đối mặt với một khủng hoảng ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào, song lần nữa, sẽ dần trở thành hiển nhiên xuyên suốt các giai đoạn phát triển đời người khi diễn ra sự thay đổi về mặt cảm xúc, xã hội và tâm lý.

Cha con, nở hoa và miên viễn câu chuyện chuyển hóa

Mai Anh Đào phố núi
Mai Anh Đào phố núi

Cả hai bộ phim của Ba Lan và Slovakia đều cùng đề cập đến câu chuyện cha và con. Chiếc xe đạp của bố tôi (Mój rower) kể về nỗ lực hiểu và thương của ba thế hệ trong một gia đình; Cậu bé Anh Đào (Čerešňový chlapec) nhắm tới đời sống của người khiếm khuyết với nỗi nhớ khôn bao giờ nguôi về ngôi nhà ấm êm thuở nhỏ.

Khi một biến cố xảy đến cũng tựa như việc chứng kiến hoa anh đào tung nở bất ngờ, nỗi niềm ngạc nhiên làm chúng ta bàng hoàng, thậm chí, có thể khiến mình trở nên tệ liệt, đột quỵ, bước trật ra khỏi rìa đường quen thuộc lâu nay… Ám ảnh thiên hạ là băn khoăn làm sao tìm thấy, tạo lập chỗ đứng trong khi mọi thứ không ngừng chuyển biến đến vậy?

Dẫu ý tưởng “sống trong hiện tại” thì chẳng hề mới mẻ chút nào, song thành thật thì nhiều người chủ yếu tiêu tốn thời gian trong “cái đầu của chúng ta”, mải miết xay nghiền quá khứ hoặc lo lắng chẳng ngừng nghỉ về tương lai. Bằng cách nào để thưởng thức khoảnh khắc hiện tại, như cảnh vật xung quanh hồ hồn nhiên đổi thay và những cánh hoa anh đào nở bừng và lúc lỉu trái quả trong đời ở nơi thân yêu ấy đây?

Cả hai bộ phim nêu trên cho thấy, quan hệ cha con cần được kiểm tra đặng học hỏi từ sai lầm sâu sắc ở cả điều tốt, điều xấu và những phức tạp khó thấu suốt. Biết ơn những người khác nhiều đến bao nhiêu vẫn chưa đủ vì mình không thể biết rõ những gì họ đã làm cho ta nhiều đến bao nhiêu vẫn chưa đủ…

Cơ chừng, không có gì buồn bã hơn trong các mối tương giao khi một quan hệ đang độ nảy chồi đâm lộc song lại không được cho cơ hội để nở bừng toàn mãn chỉ vì một sự hiểu nhầm tai hại làm cắt ngang, bật gốc.

Vào lúc nghiệp quá khứ chín mọng trong hiện tại thì nghiệp mới được tạo ra bởi cách thức người ta đáp ứng mà nó tất ảnh hưởng tới chiều kích của nghiệp quá khứ rồi tạo nên chiều kích của nghiệp tương lai.

Xem xong cả hai phim, chợt nhớ đến ý tưởng đã đọc đâu đó rằng trẻ em được sinh ra do bốn nguyên nhân cơ bản: đền đáp quá khứ tử tế; quả báo cho sai lầm dĩ vãng; hoàn trả những nợ nần quá khứ; xác nhận các nợ nần quá khứ.

Gì gì, mùa hạ nồng thắm, ngoài việc nhìn ngắm những quả cherry đỏ tươi sao không thử cho chính mình một đặc ân. Đi ra ngoài, tìm một cái cây và chọn chỗ ngồi thật thoải mái (nên chăng dựa lưng dọc theo thân cây). Và bây giờ, tự hỏi mình: làm thế nào tôi có thể nuôi dưỡng những mùa hoa riêng có?

Tin vui là không giống các cây anh đào, chúng ta có năng lực độc sáng biết sử dụng tâm trí mình đặng nuôi dưỡng đời sống bản thân. Mình có thể làm cho nó đẹp đẽ hơn mỗi một ngày thông qua sự chú ý đến phẩm chất của các suy nghĩ.

Mình cũng nên sử dụng mùa này để tắt đi Ứng dụng Lo lắng trong máy điện thoại, dấn thân đều đặn trong sự yên bình mãi mãi, và điều chỉnh hòa hợp với các ước muốn của trái tim mình.

Hãy yêu thương với niềm vui sướng, ấp ủ năng lực sáng tạo, hậu thuẫn cho cái đẹp nở hoa, bởi thế giới luôn luôn cần điều đó.

Lời cuối, nếu thích phim Chiếc Xe Đạp của Bố Tôi thì xin mời xem trực tuyến với phụ đề tiếng Anh.

Đời người lại nở bừng như mùa từng làm thế với hoa mai anh đào...
Đời người lại nở bừng như mùa từng làm thế với hoa mai anh đào…

Mình đã đóng cửa sổ chưa?

Bước chân ra khỏi nhà một đoạn, tôi tự hỏi không chắc mình đã đóng cửa sổ cứ mở ngỏ hầu như suốt bốn mùa chưa nhỉ.

Khi cảm thấy không an toàn, tôi quay về kiểm tra. Và wow, đã đóng.

Khi rời nó lần nữa, tôi lại băn khoăn vì tôi cơ chừng chẳng nhớ nổi… Tôi buộc phải đóng nó, rằng tôi tuyệt đối đảm bảo rằng ở đó không có điều gì khác xảy đến, và nó cứ mở ngỏ thế lâu nay.

Tại sao tôi không chắc chắn khi cửa sổ đã đóng rồi?

Tôi ắt hẳn mơ ngủ lúc đi đóng cửa sổ, tự thân mình đóng nó song lại đóng nó thiếu tỉnh thức, đóng cửa sổ bằng sự vận chuyển tự động theo thói quen.

Không, tôi không trỏ thẳng ý là mình mộng du song ở đây yếu tính cơ chừng mang cái gì tương tự.

Khi chúng ta vượt băng qua các “nghi thức” của đời sống trong một thể cách cơ chế máy móc mà thiếu vắng sự hiện diện của tâm trí, thật là tốt lành như lúc đang mộng du vậy. Nhiều ví dụ quá chừng rõ ràng hơn chuyện kiểm tra cửa ngỏ và bình gas!

Hết sức hiển nhiên, tôi đã ở đó để đóng cửa sổ, hoặc có thể tôi chưa đóng nó, dẫu khi đang đóng cửa sổ thì sự tỉnh thức (mindfulness) của tôi không hiện diện trong khoảnh khắc ấy– đó là lý do giải thích tại sao khoảnh khắc đang đóng cửa sổ đã không được đăng ký vào ký ức ở trạng thái nhận thức muộn màng.

Quay lại kiểm tra cửa số đích thị là vòng tròn vi tế không đáng của sự tái sinh. Chúng ta tái sinh, từ đời này sang đời khác trong Luân hồi (Samsara) cực kỳ rõ ràng, bởi vì chúng ta thiếu vắng tỉnh thức trong việc ý thức và xác nhận các bài học sống, chết ở đời. Nhiều cơ hội đã bị bỏ lỡ, lãng quên. Bởi vậy, chúng ta bị thôi thúc quay trở lại nhằm học lần nữa cách thức để bẻ gãy hoàn toàn khỏi Luân hồi.

Bất kể chúng ta có bị chẩn đoán mắc OCD (Rối loạn Ám ảnh Cưỡng bức: Obsessive Compulsive Disorder) hay không, tái sinh đã là OCD của chúng ta! Tỉnh thức đích thị là sự chữa lành, điều trị cho căn bệnh của thói quen đủ thứ lực lượng thôi thúc lặp lại vô nghĩa.

Chúng ta cần huấn luyện tâm trí mình để nó sắc bén, tinh nhạy hơn, với sự tỉnh thức và trực giác lớn lao hơn– không chỉ bởi để lão luyện Pháp (Dharma) mà còn tinh thông các vấn đề thông thường hàng ngày nữa.

Thực tế, tuyệt nào có sự chia tách hay phân biệt gì, vì Pháp là sự áp dụng hết sức chính xác trong đời sống hàng ngày.

Điều này bao gồm các đồ, mớ vặt vãnh như đóng cửa sổ và khóa cửa phòng!

Tỉnh thức có thể được huấn luyện mang tính hệ thống thông qua các thực hành thiền định (meditation). Thậm chí thực hiện cầu kinh đúng đắn là một dạng thiền định. Lần nữa, ngay tập trung cao độ tâm trí mình ngõ hầu nhìn thấy sâu xa và cảm nhận một cái tay nắm cửa sổ có thể mang tính thiền định.

Không có sự chia tách hoàn toàn giữa Pháp và Luân hồi. Tất cả Pháp chúng ta nhất thiết lão luyện thì nằm trong sự hỗn độn, rối rắm của Luân hồi.

Mình đã đóng cửa sổ chưa?

Thiếu hụt về mặt ghi nhớ song không chẩn đoán ADHD

Thường, chẩn đoán có thể nghĩ tới cho những đứa trẻ gặp khó khăn trong học tập, chú tâm và hướng tâm trí vào trường lớp là ADHD.

Thậm chí, ngay cả khi bỏ qua bên các chẩn đoán chính thống, khi nhìn vào cách thức bố mẹ và thầy cô giáo nói về con em, học trò thì ADHD khá dễ được lựa chọn bất chấp vấn đề đích thực ra sao.

Trong cuốn sách của tác giả Torkel Klingberg chỉ ra những đứa trẻ thiếu hụt về chuyện ghi nhớ đã bị chẩn đoán nhầm là ADHD. Người mắc ADHD hay gặp các vấn đề với việc ghi nhớ, song không phải ai gặp trục trặc về chuyện ghi nhớ cũng đều mắc ADHD.

Vậy, ghi nhớ là cái gì? Có một sự mô tả đầy thú vị về chuyện này ở đây.

Ghi nhớ giúp mình lưu giữ và xử lý các thông tin thu thập được, tựa như một tập hợp các chiều kích với các bước đi phức tạp, dòng mạch của một cuộc trao đổi, sự trải ra các phổ truyện, những vấn đề toán học và các bài tập học thuật liên quan khác. Ngay cả nếu hầu hết thông tin này không bao giờ cần tạo nên trí nhớ dài hạn thì mình cũng nhất thiết phải lưu giữ nó vào tại thời điểm hiện tai ngõ hầu thực hiện thành công các nhiệm vụ khác biệt nhau sau này.

Mình có thể hiểu tại sao bọn trẻ trục trặc trong chuyện ghi nhớ khốn khổ đánh vật ở trường học. Thông lệ thì trục trặc ghi nhớ đi kèm với thiếu chú ý khiến cái nhãn ADHD phủ chụp ngay lên những đứa trẻ này.

Mọi sự rắc rối khi những trẻ này vất vả theo đuổi chuyện học hành và bị tụt lại so với bạn cùng lớp, chúng thường trở nên cáu gắt, biểu lộ cảm xúc qua cách ứng xử, hoặc để mặc tâm trí mình lang thang vô định– mà những điều như thế càng củng cố ý niệm trong đầu mọi người rằng chúng đang mắc ADHD.

Và trong những đứa trẻ mắc cả ADHD và gặp những thiếu hụt nọ kia về ghi nhớ, mối quan tâm nên được khuyến cáo là mọi người sẽ chú mục vào việc kiểm soát (sử dụng biện pháp y học) bất kỳ sự tăng động nào, kết cục trả giá cho việc không nhấn mạnh tới những vấn đề liên quan đến việc ghi nhớ.

Khi già rơn rồi, các bài hát trở nên ít buồn bã hơn…

Anh hát lên, nhớ gì trong mắt em; anh hát lên, còn có em, ôi tuyệt vời… Anh hát lên, nhớ về chiều mưa buồn, mưa vẫn rơi, hoa ngập lối đường về…”

Âm nhạc là thứ công cụ quyền năng trong việc biểu đạt và làm truyền dẫn các cảm xúc.

Tôi chợt nhớ giai điệu bài hát ám ảnh thượng dẫn, khi đọc thấy nghiên cứu tìm hiểu liệu có phải rồi bằng cách nào mà việc cảm nhận âm nhạc đổi thay khi người ta già đi.

Theo đó, tác giả Lima cùng cộng sự vén lộ sự thật: những ai đã già thường cho thấy sự hồi đáp giảm hẳn trước thứ âm nhạc diễn tả cảm xúc tiêu cực, và tri giác của họ về những cảm xúc vui vẻ lại duy trì khá bền vững.

Ai cũng biết, cảm xúc giữ vai trò thiết yếu trong sáng tác và cảm thụ âm nhạc; thậm chí, ngay cả trẻ sơ sinh cũng có năng lực định hình các cảm xúc trong những trích đoạn tác phẩm (Nawrot, 2003).

Tuy thế, nhận ra các cảm xúc trong âm nhạc rất ít được chú ý nghiên cứu. Công trình của tác giả Lima và cộng sự xem xét hiệu ứng của tuổi già về sự tri nhận cảm xúc do âm nhạc khởi tạo.

Cần biết, các nghiên cứu trước đây xem xét việc tri nhận cảm xúc theo các phương thức khác biệt hẳn nhau đã góp phần tỏ lộ rằng có sự suy biến việc tri nhận các cảm xúc khi tuổi tác tăng lên, chẳng hạn ở đây. Một nghiên cứu khác thì tìm hiểu tác động của tuổi già lên sự tri nhận cảm xúc âm nhạc thông qua việc so sánh người đương còn trai tráng (tầm tuổi 24) và người đã già rơn (trên 65). Các kết quả thu được chỉ rõ rằng người lớn tuổi gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tri nhận cảm xúc sợ hãi và buồn bã cả ở lĩnh vực âm nhạc lẫn phát ngôn mang chất thơ, trong khi họ không hề bị phiền nhiễu khi chú tâm tới trạng thái tức giận, hạnh phúc và cảm xúc trung tính.

Nghiên cứu của tác giả Lima và cộng sự chứng thực những thay đổi ý nghĩa liên quan giữa tuổi tác với các cảm xúc cụ thể. Đáng chú ý, họ còn định hình một sự suy giảm tuần tự trong hồi đáp với âm nhạc khiến ta buồn bã và kinh hoảng. Không có sự khác biệt lắm trong thứ âm nhạc vui tươi. Những điểm khác giữa nhóm tuổi tác cũng được ghi nhận về mẫu thức phân loại nhầm nhọt giữa thứ âm nhạc buồn bã và yên bình. Các đối tượng tham gia thực nghiệm còn trẻ thì cơ chừng tri nhận buồn bã hơn với thứ âm nhạc yên bình, còn đối tượng già rồi lại tri nhận nhiều an ổn. Điều này dễ là do các chức năng cấu trúc thuộc thể loại âm nhạc buồn bã và yên bình vốn đặc thù mang hơi hướng chậm rãi.

Anh hát lên, nhớ gì trong mắt em. Anh hát lên, còn có em, ôi tuyệt vời… Anh hát lên, nhớ về chiều mưa buồn. Mưa vẫn rơi, làm lòng anh xót xa…”

Những nghiên cứu tương lai dường như nên tập trung khám phá thêm luận điểm vừa nêu. Cũng phải nói rằng tác giả Lima và cộng sự để ý tới cả số năm tập luyện âm nhạc của các thành viên tham gia thực nghiệm nữa. Phân tích này gợi mở mối liên hệ tích cực giữa luyện tập âm nhạc với khả năng phân loại các cảm xúc âm nhạc.

Một lý giải khả thể cho phát hiện chủ yếu của nghiên cứu này là sự giảm sút việc nhận ra các cảm xúc cụ thể e phản ánh sự suy giảm tâm lý thần kinh định khu ở các vùng não bộ có dính dáng với tuổi già (tuyến dưới đồi) liên quan việc xử lý cảm xúc. Các nghiên cứu từng thực hiện, ví dụ, đã chứng tỏ, các vùng não bộ rõ ràng liên quan tới sự tri nhận các cảm xúc khác nhau.

Một lý giải khả thể nữa là do định kiến lộ rõ liên quan với tuổi già (1, 2). Định kiến dễ thấy liên quan tới tuổi già ấy cho rằng người ta khi già đi sẽ ít hẳn trải nghiệm các cảm xúc tiêu cực, cự tuyệt.

Vậy là, những nghiên cứu sắp tới có thể nhắm vào việc định hình những vùng não bộ khu biệt trong sự nhận ra cảm xúc ở các lứa tuổi khác nhau. Hơn nữa, khi khả năng phơi tỏ trong định kiến về tuổi già có thể không thật phổ quát (chẳng hạn, những cụ già Trung Quốc quay mặt khỏi các biểu đạt của vẻ mặt hạnh phúc song lại không lờ tịt các biểu đạt tiêu cực).

Nghĩa là, chắc chắn hứa hẹn sẽ vô cùng thú vị nếu tiến hành tìm hiểu xem tác động của việc nhận ra cảm xúc âm nhạc như thế nào ở đối tượng tham gia thuộc các nền văn hóa khác biệt nhau.

Hiện tại, nếu bạn vẫn cảm thấy chưa quá khốn khổ và cứ chực đú đởn mơn man muốn nghe Gloomy Sunday cơ thì tại sao không tiếp tục ngân nga…

Bài hát đó, năm xưa đôi ta quen nhau. Bài hát đó, đôi ta yêu nhau lần đầu. Ngày tháng ấy, tình yêu phôi pha trong tim… Bam-bi-nô… Bam-bi-nô… Bá bà… bá bà… bà ba ba ba ba. Bá bà… bá bà… bà ba ba ba. Bá bà… bá bà… bà ba ba ba…

Sức hút của mấy quả măng cụt

IMG_221212_0012.jpg

Không có chuyện nào để kể về bản thân mình nên tôi tiếp tục mô tả những gì đang thấy ở xung quanh.

Đó là cách cô bán hàng run tay khi cân mấy quả măng cụt, và ánh mắt nhìn lo lắng lúc khách nghe hỏi han đã thật thà kể chi tiết về những quả trứng mới mua hôm nọ. Sự thật được khởi lên không nằm trong lời nói hay ghi dấu đích thực từ sự kiện nọ kia tưởng nghĩ rằng từng xảy đến… Sự thật định hình là do tin nó có thật, hợp đúng với cảm nhận mình cho là thấy rồi ghi lại chính xác.

Mấy quả măng cụt kéo mình về tuổi thơ, với cái bếp no đủ, khơi dậy êm đềm sợi dây gắn bó giữa mẹ và con– nơi đấy, người nhìn, ngửi, sờ chạm, nuốt vào và bàng hoàng một khoảng không gian chẳng chịu lưu trữ tại mỗi bộ nhớ tạm thời của tâm trí; chí ít, cái vỏ mang chứa màu sắc ấm bụng được xâu chuỗi rồi treo cất trên giàn qua khói lửa thời gian cùng muội tro than củi ngày ngày để bất chợt âm thầm bày tỏ chức năng chữa trị ốm đau…

Mấy quả măng cụt còn thừa sức kéo lôi người ta hướng thẳng tới cửa nẻo vị lai. Đấy là hơi vị đồng dạng quả thị ‘để ngắm chứ không ăn’ cứ bất tận ám ảnh miên viễn; cái thứ quả đời đời thô nhám vậy mà vòng vèo dắt díu nhau chưa chịu dứt tình qua bạt ngàn kiếp sinh tử, giục giã ta mau quay lại nơi chốn nọ kia ngõ hầu làm chứng nhân hư vô.

Rằng đắng cũng không được quên “chỉ duy nhất sự thật tuyệt đối của vô thường hay sự thật tuyệt đối của sự hiểu biết sai lạc” khi mê man biểu tỏ ‘một cảm xúc’, ‘nghĩ suy’, ‘nhớ thương’, ‘rung động’, ‘cơn đau’, ‘ta’, ‘đối tượng’,…

Tập là tập thôi, thực hành là thực hành thôi, sống là sống thôi– nào phải tập, thực hành, sống của ai đó; kể chi sức hút ghê gớm của mấy quả măng cụt.

Như quả trung vị khỏi dính mắc, và như thị giải thoát bình thường thôi.