Lệ Rơi, lên thuyền ra khơi, hay quẩn quanh ven bờ: buông lơi bàn chơi về tính chuyên nghiệp đua chen cùng đặc thù truyền thông hiện đại

Có vẻ câu chuyện chàng nông dân Hưng Yên mang biệt danh Lệ Rơi sắp đến hồi kết.

Ở một góc độ nhất định, tất thảy chúng ta dù muốn hay không và/ hoặc vô tình hay hữu lý, đều hướng tới phục vụ cộng đồng xã hội theo tâm nguyện ‘mua vui cũng được một vài trống canh’. Vượt trên những đau đớn trái ngang của thân phận, chính tính mục đích trong biểu lộ mối quan tâm, chú mục hành động và cơ sở tạo thành những nhận xét, đánh giá nọ kia về một hiện tượng hoặc nhân vật nào đó chắc chắn chi phối giá trị bản thân chúng ta: rốt ráo, động cơ và dự định là gì, nhằm ý đồ chi?

Dự tính và hậu quả

Từng nghe ví von rằng ‘thánh nhân nào cũng có quá khứ, tội đồ ra sao vẫn còn tương lai’ (chỉnh sửa tí cho nó vần êm dịu đặng tranh thủ hít thở thoải mái), soi chiếu vào tiêu chí căn bản vừa nêu lên ấy, sự khoe giọng phơi mặt của một con người trước bàn dân thiên hạ quả là một minh họa nghịch hợp quá chừng thương xót: ‘đã mang lấy nghiệp vào thân…”, chịu đựng và hứng khởi cùng phát tán đến độ gây cảm tưởng khó kiểm soát nổi, nổi tiếng và mỏi mệt, chi phối và phác thảo cái khung sườn phản ánh của diễn biến tâm tư lẫn tới lui chứng kiến đồng thời.

Chừng nào cứ quen nhìn ngó, xét soi nhân vật đình đám tựa ‘nạn nhân’ u mê bị dắt mũi hay kẻ quấy rối, chơi trội dị hợm nỏ hiểu gì về đời thì bất quá cũng không thể thoát khỏi tiền định sai lầm: tư duy nhị nguyên hướng tới phán đoán đúng sai, tốt xấu, người quan sát và đối tượng được quan sát, v.v…

Nên chi, đáng thành vấn đề nhất không chỉ là sự tinh tuyền của động cơ mà cũng cần để ý cả các hậu quả xảy đến nữa; thu hoạch mong muốn cũng quan trọng chẳng kém việc thiếu vắng nó. Liệu những ý định tốt lành có xứng biện hộ cho kết cục xấu tệ? Nảy sinh vấn đề phiền muộn vì đa phần chúng ta khởi sinh các dự tính ô hợp, thậm chí hơn một thứ duy nhất.

Không ai trong chúng ta hoàn hảo, song nơi chốn này đây nên luôn cần được làm tăng thêm tính thiện xảo (skillfulness) thay vì khiến giảm sút đi trạng thái tỉnh thức (mindfulness), về lý do rất chính xác tại sao chúng ta tiến hành những gì muốn làm, và các kết quả tiềm năng được thành tựu tác động, ảnh hưởng đến chính bản thân mình cũng như những người khác.

Lần nữa nhắc lại, khi tâm trí khởi sinh mọi sự, việc hiện diện hoặc mất bóng từ bi và khôn ngoan quyết định một biểu đạt hành động dẫn dắt tới Hạnh phúc xác thực hay không. Thực tế, nếu ai đó đích thị từ bi thì kẻ ấy sẽ nghĩ ngợi hết sức khôn ngoan gấp đôi trước khi đẩy đi món thứ có thể sẽ gây xáo trộn, mập mờ hoặc tàn hại tha nhân.Từ bi chỉ đích thị khi được dẫn dắt thực sự bởi khôn ngoan, vì chúng là hai điều hỗ tương qua lại.

Bật nhanh lên trong hiểu biết về dự tính, ý định của bản thân là tốt hay xấu, và chầm chầm lại việc xác quyết, tuyên bố về trải nghiệm mình kinh qua là tốt hay xấu.

Thiển nghĩ, sự thả xuống, rời xa, quên đi đích thực không gì khác hơn là xả bỏ dính mắc, ác cảm và hoang tưởng. Mức độ một người thả bỏ phụ thuộc vào tâm tính và tình huống riêng tư của chính anh/ chị ta. Song cái nên gìn giữ lại như nguyên tắc điều hướng là điều này thôi: việc đạt được tuyên bố đòi hỏi sự nhổ rễ, trừ tiệt toàn bộ sự thèm khát, và tiến bộ theo cùng trên hành trình là nỗi niềm thôi thúc ở tầm mức nhất định nào đó vượt qua sự thèm khát. Bẻ gãy tính chủ đạo, át vía của ham muốn chắc không hề dễ dàng song khó khăn không nào hề thủ tiêu sự cần thiết thực hiện. Khi khát thèm là cội nguồn của dukkha (vô vàn bất toại nguyện), tận diện nỗi khổ niềm đau ấy phụ thuộc việc tiết giảm thèm khát, và liên quan trực tiếp tới tâm trí muốn thả bỏ, rời xa…

Lúc này, khi ai đó nỗ lực cởi bỏ dính mắc, người ta bất chợt gặp phải một sự kháng cự ghê gớm ở bên trong. Tâm trí không hề muốn từ nhiệm chuyện nắm giữ các đối tượng mà nó cứ dần gắn bó thêm lên mãi. Cả quãng thời gian đằng đẵng nó quen thói tích góp, ôm ấp, và nắm chặt nên cơ chừng bất khả việc tháo gỡ các thói quen này nếu chỉ dựa vào mỗi hành động của ý chí. Người ta có thể dễ tán đồng nhu cầu cần phải từ bỏ, có thể rất muốn rời xa khỏi việc dính mắc ẩn sâu bên dưới, song khi tiếng gọi vang lên thì nghe chừng tâm trí dội ngược ngay liền và tiếp tục tiến bước trong nỗi khát khao thít chặt, ôm nắm những ham muốn, khát thèm sẵn có.

Biện pháp không nằm ở cách thế dồn nén; nỗ lực dẫn dắt ham muốn thoát ra với một tâm trí ắp đầy sợ hãi và kinh tởm. Cách tiếp cận này không những chẳng giải quyết được vấn đề mà còn đẩy nó chìm sâu, khuất lấp khỏi bề mặt trông thấy và vẫn phát triển âm thầm. Công cụ phóng thích tâm trí khỏi ham muốn là trạng thái hiểu biết. Sự xả bỏ, buông xuống đích thị không phải là vấn đề tự thuyết phục chính mình để từ bỏ các thứ hãy còn được ấp ủ, hoài nhớ trong lòng, mà là đổi thay viễn tượng về chúng (nhận ra chúng vô thường và không thật) đến độ chúng không còn ràng buộc ta được nữa. Khi hiểu biết bản chất của các ham muốn và thèm khát, khi điều nghiên thật sát gần nó với sự chú tâm nghiêm túc thì các ham muốn và khát thèm sẽ tự thân rơi rụng, biến mất mà không nhất thiết đòi hỏi phải đấu tranh, gạt bỏ.

… Câu chuyện của Lệ Rơi tựa các dự tính, ý định thu hút sự chú ý khác như vụ chụp ảnh khoe thân là câu chuyện của chính chúng ta, bởi vì hoàn cảnh đang chẳng ngừng chung đụng mọi thứ.

Cơn cớ chi chúng ta thù ghét nhau?

(sẽ viết tiếp các phần khác khi tiện dịp)

“Tôi không thể cho lời khuyên”

Báo chí Việt Nam luôn tạo cơ hội để tôi cảm thấy mình cần giữ tâm trạng phấn khích và ngạc nhiên mãi hoài chưa thôi. Với lối đặt tên “Kết thúc có hậu của người đàn ông ruồng rẫy vợ con để theo bồ nhí” tựa cách khai thác tin bài vô tiền khoáng hậu vậy, thiên hạ không bức xúc đến độ chỉ chực muốn nhảy chồm chồm rồi mắng mỏ nhau lia chia qua lại mới là chuyện lạ.

Và cập nhật đây nữa: Tan nát gia đình vì chuyên gia tâm lý.

Chuyên gia khuyên em hãy đi tìm người đàn ông khác để tìm hiểu vì có thể sẽ có cảm hứng, ham muốn. Vị chuyên gia kia không quan tâm chuyện gia đình bị ảnh hưởng thế nào, chỉ lo giải quyết cái vụ “chán tùm lum” của vợ tôi, kết cục gia đình tôi tan vỡ.

Nhân vật ‘chuyên gia’ này là ‘một vị cực kỳ uy tín trong ngành tâm lý’ (!?).

Mào đầu lấy cớ, chứ ở đây không nhàn rỗi thừa hơi thêm đặng dành lời bình luận say sưa cho hơi hướng cải một mớ thế.

Giờ mời đọc đoạn phát ngôn sau.

Tôi sẽ giúp chị tìm ra câu trả lời đúng đắn song tôi không thể cho lời khuyên hoặc thông tin (trừ lúc thích hợp). Tôi không thể làm cho chị lớn lên. Chị phải tìm ra câu trả lời cho riêng mình suốt các phiên và bên ngoài tiến trình trị liệu. Tôi sẽ chấp nhận chị và các hành vi của chị trong mỗi một bước đi trên hành trình. Tôi chấp nhận các giá trị của chị sẽ thường khác biệt so với giá trị của bản thân. Tôi tôn trọng mọi nền văn hóa và các định hướng phát triển, và sẽ đương đầu với bất kỳ định kiến nào nảy nở trong lòng mình.

Nói ngay, cách nhìn này đích thực thể hiện hiểu biết căn cốt về trị liệu và phản ánh tương thích với hầu hết mối quan tâm của thân chủ. Trong khi không nghi ngờ gì vô vàn khác biệt xuyên văn hóa, đa phần mọi người tìm đến trị liệu tâm lý với kỳ vọng muốn được nhà tham vấn bảo họ nên làm gì. Đấy là nguồn cơn họ cân nhắc đặng tính chuyện trả phí: lời khuyên và kiến thức tâm lý chuyên sâu của nhà tham vấn. Nếu trị liệu khởi đi từ việc đặt thân chủ vào thỏa ước chắc chắn rằng tôi sẽ không cho lời khuyên chi cả và thân chủ phải tự tìm ra các câu trả lời thì họ sẽ chủ yếu nghe ra rằng nhà tham vấn không thể trợ giúp họ và khả năng cao là họ chẳng thèm quay trở lại trong phiên kế tiếp.

Thực tế, điều này minh họa một sự trái ngược khả thể: nhà tham vấn giữ vị trí quá chừng lý tưởng, rằng thân chủ buộc phải tìm tìm thấy câu trả lời cho bản thân, đồng thời nói rằng anh ta sẽ ‘tôn trọng mọi nền văn hóa’ và chấp nhận các giá trị khác biệt. Dĩ nhiên, thật hoàn hảo để nhận ra nhu cầu của thân chủ muốn được khuyên nhủ mà vẫn không đưa cho họ, song điều này đòi hỏi lối trình bày thiện xảo và quyết không chỉ là lời đầu môi chót lưỡi đi kèm với tuyên bố: “Tôi tôn trọng nhu cầu cần có thông tin của chị song tôi sẽ không cung cấp cho chị và đây là lý do tại sao”.

Trải nghiệm tác nghiệp hành nghề giúp ta phát hiện thấy vị thế của nhà tham vấn đã thay đổi theo thời gian, rằng tôi nhất thiết phải xem xét thấu đáo định kiến căn bản của mình với tư cách là một nhà tham vấn, rằng người khác “nên là” trong dòng chảy không ngừng của trải nghiệm và tôi phải rất tinh tuyền trong việc làm thuận lợi, dễ dàng sự trưởng thành, triển nở của thân chủ. Rất thường gặp trạng thái người ta không hề chạm tới được trải nghiệm đang là của bản thân khiến họ tìm đến nhà tham vấn nhờ trợ giúp, và cũng rất thường tình việc ít nhiều chân thành khi nhà tham vấn nắm giữ thông tin tích lũy có thể trợ giúp bằng chuyện xử lý những lối trình bày riêng biệt liên quan tới nỗi niềm bất mãn đó trong đời sống của thân chủ.

Tôi cho rằng, quan trọng cần nhớ, nhà tham vấn đang không truyền đạt kiến thức chuyên sâu từ trên cao. Lĩnh vực của chuyên gia ngành hẹp chẳng hề có nghĩa anh ta tổ chức việc tìm kiếm các giải pháp hoặc thực hiện mọi điều đặng giúp đỡ cho chính thân chủ, mà đó là việc tạo lập trạng thái sống cùng với thân chủ, theo nhu cầu của thân chủ đã được hai bên vạch ra trên tấm bản đồ đường đi nước bước cụ thể, và cả ước ao của thân chủ nhằm cởi bỏ áp lực tồi tệ của việc đang buộc phải làm mọi điều cho chính bản thân. Khi áp lực này bị làm dịu bớt cũng như đã bẻ gãy được sự cô độc hay tách biệt thì chính thân chủ, tự họ, dần tiến tới giải pháp ngay lập tức,

Song điều này là phương thức đòi hỏi kiên trì lâu dài, và thực tế thì khá bất khả vào giai đoạn khởi sự tham vấn ban đầu.

‘Hạnh phúc’, nghe chúc mãi thành quen tai và nhàm tẻ

Thế là Việt Nam lại có thêm một hoạt động màu mè, theo nghĩa lập lòe át vía để  ít nhiều cố tình che đi những nhiễu nhương và bất mãn trong sâu thẳm lòng người. Xin cứ tự nhiên tham gia lần thứ hai phong trào thế giới do Liên Hiệp Quốc phát động mang sắc thái tâm lý học tích cực để tạo nên cam kết cá nhân nhằm vinh danh rồi tái khám phá trở lại, một cơ hội học hỏi nhiều hơn đồng thời tăng cường sức mạnh riêng có nhằm làm cho chính bản thân mình hiểu biết hạnh phúc thêm nữa vào hôm nay.

Hạnh phúc tuyệt không hời hợt cũng chẳng hề xa xỉ. Đó là nỗi niềm ước ao thẳm sâu đặt để trong mọi thành viên của gia đình nhân loại. Hạnh phúc không nên loại trừ ai và cần tương thích với hết thảy. Khát vọng ấy được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc cam kết như cách thức nâng cao hòa bình, công bằng, quyền con người, tiến bộ xã hội và cải thiện các chuẩn mực đời sống.

Có thể bạn không khớp khít hoặc chẳng đủ điểm trắc nghiệm về chủ đề liên quan; mặt khác, hạnh phúc thì nào giống với việc theo đuổi, truy tầm hạnh phúc. Sức khỏe, sự khôn ngoan, trí tuệ, giàu sang và tài năng; một đời sống hạnh phúc không đồng nghĩa một đời sống có ý nghĩa.

Làm thế nào để nhìn nhận về tính vô thường của cuộc đời đang sống một cách thật tích cực?

Làm thế nào để biết thưởng thức đời sống tràn đầy hơn?

Những gì là hạnh phúc vững bền và rốt ráo?

Tại sao chúng ta ở đây?

Tự do vượt thoát khỏi tâm trí và vật chất. Tập luyện tỉnh thức chân chính để giảm thiểu khổ đau, từng khoảnh khắc một, từ giây phút này sang giây phút khác; thường xuyên và liên tục. Trạng thái an lạc, không bị xáo trộn bởi bất kỳ điều kiện nội tại hoặc ngoại giới nào, hạnh phúc hoàn hảo được khởi sự bởi khôn ngoan (nhìn thấy cách thức mọi thứ đích thực đúng vậy) và từ bi (tử tế với những ai thiếu vắng sự khôn ngoan ấy) là mang hạnh phúc đến với tha nhân.

Nói thêm về một nền tảng lập luận dạy học

(Bài này khởi thảo đã gần nửa tháng nay rồi mà giờ dây dưa mãi chưa chịu kết thúc)

Vụ thầy, trò đánh nhau trên lớp dẫu có bổ sung hay khai thác thêm thông tin mới để rồi sẽ càng làm tăng độ kịch tính hơn song rốt ráo thì chẳng thể khiến bản chất của câu chuyện khác đi được khi việc dạy trở thành công tác thúc ép, gán vào người học.

Đọc bài viết của một giảng viên Đại học Sư phạm ngậm ngùi thấu hiểu thêm; thậm chí, ngay cả các ý kiến bình luận mang tiêu đề “Bạo lực với học trò là tối kỵ” cũng không thoát ra khỏi tâm thế níu giữ cái bóng quyền lực của người thầy và còn đó nỗi khát khao thầm lặng về một môi trường học đường bị điều khiển, có kiểm soát.

Đây chính là lúc cần nói rõ ràng về điểm yếu trong phương pháp Makarenko vốn được ngành sư phạm Việt Nam cực kỳ xiển dương.

Trước hết, kiến thức về não bộ- thần kinh cho chúng ta biết rằng cách hay nhất để trừng phạt là không làm điều đó; khi trừng phạt, chúng ta tạo động cơ để sự trừng phạt quay lại, còn khi sự trừng phạt bị từ bỏ và không tiến hành thì chúng ta dễ nghiêng theo hướng làm vui.

Học sinh cần người kèm cặp mà vị ấy không biểu tỏ quyền lực trên chúng, không cố đạt được lợi lộc và thu vén riêng tư, là những người giúp các em học hỏi điều quan trọng, cả đời sống nghề nghiệp và đời sống cá nhân; đừng quên, chìa khóa của việc kèm cặp, dạy dỗ là quan hệ.

Cùng với thành công, phương pháp của Makarenko cần một môi trường được điều khiển và coi trọng uy quyền. Nhấn mạnh đến kỷ luật bản thân, Makarenko đòi hỏi tính cương quyết và tự kiểm soát ở cả giáo viên lẫn học sinh, và khuyến cáo giáo viên cần được huấn luyện để kiểm soát tông giọng, động dung khuôn mặt, và cử chỉ điệu bộ (mang tính diễn xuất). Với “giáo dục”, ông hàm ý việc đó không chỉ là truyền đạt kỹ năng và kiến thức mà còn phải rèn đúc nhân cách để cá nhân đồng nhất với tập thể (tr.397).

Ngoài ra, phương pháp của Makarenko dựa vào lời dạy của Lenin, Marx và Engels còn cho thấy rằng nó xa lạ với mọi người thời điểm đó. Giáo dục ở Nga luôn trung thành với đường lối truyền thống và lấy giáo viên làm trọng tâm; nó đi theo mô hình công ty. Makarenko tin rằng cần phải ra lệnh. Dù ông không có tập hợp các quy tắc chuyên biệt nào khi khởi sự song một nguyên tắc rõ ràng của ông là nguyên tắc nghiêm ngặt.

Một điểm then chốt trong việc giảng dạy mà Makarenko ý thức là khả năng nhận ra được tầm quan trọng của cảm xúc. Ông lưu ý, các giáo viên và nhà tâm lý trang bị đầy đủ kiến thức và nói bằng thứ ngôn ngữ thể hiện trình độ được đào tạo bài bản, không biểu lộ cảm xúc với trẻ em được xem như là các bộ từ điển bách khoa vô nhân tính: ứ tràn các thông tin song lại chẳng dính dáng gì tới đời sống thực tế hàng ngày. Đứa trẻ mà Makarenko làm việc là đối tượng mồ côi và ông nhận ra rằng trước khi được truyền tải kiến thức, chúng phải được chăm bẵm và trạng thái cảm xúc phải ổn định. Hơn nữa, các trẻ này không ý thức về bất kỳ quyền lực nào vì chúng vốn tự tung tự tác quen rồi khi sống lê la trên đường phố. Ông nhấn mạnh mối quan tâm của trẻ vào đất nước, sự biết ơn lâu dài, và tiềm năng để có hạnh phúc sâu xa. Ông muốn khiến trẻ cảm thấy tự hào về công việc chúng làm được và cho chúng cảm thấy bản thân cần thiết.

Tuy thế, Makarenko cũng thấy tầm thiết yếu của các mục tiêu ngắn hạn đủ để trẻ nhìn thấy ngay kết quả tạo ra và là động cơ để phấn đấu tiếp.

Makarenko thậm chí còn cảm thấy rằng dù động cơ nội tại là quan trọng thì điều ấy cũng khiến người ta ích kỷ. Ông thực sự cảm nhận rằng trừng phạt là yếu tính cho việc học hỏi. Ông không nhìn sự trừng phạt như thế kiến lập nên sự thống trị, chủ soái mà nghĩ rằng đấy là cách thức để cho trẻ cảm nhận về tình huống chúng sẽ có thể bắt gặp khi vào đời. Ông tuyên bố rằng mình chỉ trừng phạt những trẻ nào ông quan tâm và đảm bảo các học sinh của mình không điên lên khi ông làm điều đó.

Nghiên cứu gần đây chỉ ra, đánh phạt vào mông trẻ gây ra ba hành vi không đáng có ở trẻ phải chịu: sự không phục tùng ngắn hạn, không phục tùng về sau, và xung hấn; lĩnh vực nghiên cứu này khó tiến hành ở nhà bởi vì đánh phạt hiếm khi xảy ra ở trước bàn dân thiên hạ hay có mặt người lạ. Nó cũng khó thực hiện tại phòng thí nghiệm vì ngăn cấm gây đau cho đối tượng.

Một nghiên cứu khác với 2461 trẻ chứng tỏ, sử dụng thường xuyên việc trừng phạt thân thể trẻ (ví dụ, mẹ tét mông con hơn hai lần tháng trước) khi trẻ lên 3 thì có khả năng làm tăng lên nguy cơ cao hơn sự xung hấn khi trẻ 5 tuổi.

Thực tế, quan sát lâm sàng cho thấy người thành đạt nghề nghiệp có nét tính cách ám ảnh phát hiện ra rằng các phẩm chất thích ứng của họ giảm bớt đi trong bối cảnh không phải nơi làm việc. Họ là những người khó tính khi sống cùng vợ con và ít chấp nhận các nhân cách kiểm soát của bản thân đối với thuộc cấp ở công sở. Khi một nhu cầu ám ảnh cần kiểm soát xung đột ít nhiều với thế giới thực tế và người ta đành chối bỏ trạng thái kiểm soát thì thường liên quan tới nỗi niềm tức giận và lo âu.

Rõ ràng không quá khó hiểu khi những bất toàn, lộn xộn và nhố nhăng xảy đến hiện nay xung quanh càng dễ khiến nảy sinh ước ao trật tự hoàn mỹ và cảm giác thuộc về cái thời cuộc sống đơn giản xưa cũ đã một đi không bao giờ trở lại. Tiến trình lạc hậu và già cỗi với sự hiện diện bôi bác luôn nhắc nhở của nó về đạo đức quả thật là gánh nặng đau buồn cho nền giáo dục nước nhà.

Trong nỗi niềm hoan lạc, phiền muộn và ẩn ức

Ngay cả những rối rắm cũng nở hoa…

35 năm sau một cuộc chiến tranh biên giới. Thời gian qua đi mà không trôi mất, thậm chí, còn để lại bộn bề phản ứng. Khoảnh khắc của mất mát, hy sinh và máu xương thấm đất trở thành thứ cân đong đo đếm cho chủ nghĩa quốc gia, lòng tự hào dân tộc, cơ chế phòng vệ, khát khao tự do, giàu có, hưởng thụ siêu vượt và vô vàn ước ao cá nhân, riêng tư đối nghịch, mâu thuẫn với tinh thần cộng đồng và tham vọng xiền dương ý thức hệ.

Bất định, lo lắng, do dự và lần lữa; tất thảy trộn lẫn đã phản ánh tính phức tạp của thời cuộc cùng đời sống đương đại. Chung đụng xa hoa, những bụi xương rồng rào giậu vẫn ẩn hiện đó đây, dù nơi chúng ta sống chẳng hề kề cận sa mạc xa xôi hay bãi biển mù khơi. Những đồn đoán thật cay đắng, bởi tương lai của láng giềng e chừng cũng là tương lai của chính chúng ta, như một đất nước có chủ quyền– một cảm nhận chẳng hề dễ chịu chút nào.

Đầy nghịch lý, giới làm chính sách quốc nội hình như cóc thèm lưu tâm chi tới những bài học đơn giản cho các hệ thống phức tạp. Cộng đồng người thu nhập thấp và nghèo đói phải chịu đựng rất không tương xứng khi các chuyên gia làm luật kèm nhóm hành pháp quan liêu đã thất bại thảm hại trong việc thu hẹp khoảng cách trên tiến trình giải quyết vấn đề an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe đủ để kiến tạo thêm nhiều thách thức nan giải.

Bài học thể hiện sự nhún nhường cần tỏ rõ rằng chúng ta nên hạn chế những hành vi ngăn cấm trừ khi thừa bằng chứng việc hạn chế thì tốt hơn khả năng bị xâm hại. Với thực trạng thiếu vắng thông tin, nên để người ta tự do bộc lộ sự khôn ngoan, sáng tạo, năng lực doanh thương đặng tự giải quyết vấn đề. Dĩ nhiên, bài học rút ra còn là tránh kiểm soát và điều hành với mệnh lệnh từ trên đỉnh xuống; ví dụ rành rẽ cho sự vi phạm nguyên tắc này là USSR: chóp bu Liên bang Soviet nghĩ rằng họ thấu hiểu toàn bộ nền kinh tế để quản lý tất cả từ một mệnh lệnh trên đỉnh xuống, và ngày nay nước Nga đã khẳng định họ sai. Thứ đến, các hệ thống phức tạp không thể nhai lại hay bắt chước y chang; cách tiếp cận này chắc bị sai lầm ngay trước khi khởi sự, v.v…

Hiểu biết phương thức các tổn thương, đổ vỡ lan truyền qua các thế hệ đòi hỏi nắm bắt các bí mật lịch sử của cha ông, tiên tổ. Việc truyền dẫn tổn thương dựa trên ý tưởng rằng những gì làm nên con người không chỉ chứa đựng riêng mỗi các trải nghiệm của bản thân họ– quá chừng đớn đau tràn lấp, không thể chịu đựng hay nghĩ bàn thấu đáo được– rơi ra thành các diễn ngôn xã hội, mà rất thường khi thì cứ tiếp diễn rồi nhập vào thế hệ kế tiếp như một sự bén nhạy cảm xúc hoặc cơn thôi thúc thật hỗn độn.

 Các đường truyền lây lan xuyên thế hệ vốn bộc lộ qua các giấc mơ, trong hành động, thể hiện “bài học cuộc đời” với giai đoạn cụ thể nào đó và dạy chúng ta về gia đình. Khám phá các sự truyền dẫn này chính là đi tới hiểu biết và kể một câu chuyện rộng lớn hơn, khởi từ thế hệ đã qua; đòi hỏi lắng nghe kỹ càng các câu chuyện của ông bà, cha mẹ, với bối cảnh lịch sử- xã hội họ sống, nhất là khía cạnh kinh tế, chính trị và quân sự.

Mối dây cảm xúc gắn kết giữa đứa trẻ với tổ tiên là yếu tính cho sự phát triển các giá trị của chúng ta; quyết định trả lời các câu hỏi huyền bí: “tôi là ai”, “tôi  là ai đối với gia đình mình”, “ai chúng ta có thể tin tưởng và ai là kẻ thù”, “điều gì gắn chặt tôi với gia đình”, và quan trọng hơn hết, “với những mối dây gắn bó ấy, cái gì tôi cần gỡ bỏ và cái gì tôi cần giữ chặt”. Lớn lên từ các tổn thương tồn đọng của tổ tiên mới ngõ hầu chữa lành các thế hệ tương lai.

Vượt trên chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản, các tiêu chuẩn kép, và sự phức tạp của tội lỗi lầm lạc lẫn trạng thái ngây thơ. Như vậy, mọi thứ xảy đến chỉ là cái cớ cho tâm trí bám vào. Tình yêu gắn bó, dính mắc và ràng buộc. Tại sao con chim trong lồng thôi hót, câu hỏi ấy lắm khi chẳng được đặt ra và thực tế không dễ trả lời được.

Đi trong bóng tối mờ ảo…

Thấy trên blog Tâm Ngã mình báo 7 độ C, trong khi dạo bộ theo các con phố gần nhà nào thấy rét lắm đâu. Đoạn Chùa Một Cột thanh cảnh, với sự che chở mờ ảo của đêm xuống, không quá u ám nhờ hàng đèn bố trí men theo vỉa hè hắt lên vừa đủ điệu. Dọc mấy con phố thả chân thoải mái và hiếm khi đông người chen chúc này, hoa nở vào mùa hè khá ổn còn đông đến thì tạo cái lạnh chẳng quá se sắt.

Đi trong bóng tối, lại nghĩ về hai vấn đề ước ao được truyền thông và giáo dục rộng rãi hẳn hoi: tâm trí và sinh tử. Dĩ nhiên, chúng nên triển khai ngay từ lứa tuổi bé tí, cho các em nhỏ làm quen, trải nghiệm rồi nắm thật vững về vài ba sự thật căn cốt ở đời: đau khổ, vô ngã, vô thường và cái chết; đấy là những chuyện cần ưu tiên luyện tập thường xuyên và liên tục đặng giúp cho thời gian sống trên cõi tạm đỡ tham lam hoang phí, tức giận đùng đùng hay âm ỉ thiệt quá chừng vô bổ và lầm lạc cùng hoang tưởng lung tung.

Đây là đoạn tôi đọc cho hôm nay trong cuốn sách Glimpse after Glimpse: Daily Reflections on Living and Dying (Sogyal Rinpoche, p.32; bản dịch tiếng Việt chuyển ngữ: Mỗi Ngày Trầm Tư về Sinh Tử) thường lật giở ra suy ngẫm mỗi ngày.

Thử tưởng tượng một người thức dậy trong bệnh viện sau một tai nạn ô tô và nhận ra mình bị mất hoàn toàn trí nhớ. Thoạt trông bề ngoài thì mọi thứ vẫn nguyên vẹn: cũng khuôn mặt và hình dáng ấy, các giác quan và tâm trí còn đây, song người đấy  không hề có ý tưởng hay lưu vết bất kỳ ký ức nào về bản thân cả.

Tương tự thế, ta không thể nhớ con người đích thực và bản dạng nguyên ủy của chính mình. Trong cơn bấn loạn kinh hoàng, chúng ta lòng vòng khắp nơi rồi ứng biến vào ngay tắp lự một bản dạng khác, một bản dạng mà chúng ta ôm riết lấy với nỗi niềm tuyệt vọng tột độ của kẻ đang không ngừng rơi xuống vực thẳm. Cái bản dạng dối lừa và được giả định rất ngu muội đó là ‘cái tôi’.

Nỗi buồn đau chất chồng, nứt rạn mà không đổ vỡ, gãy tan

Nghiêng xuống đời
Nghiêng xuống đời

Thật buồn cười và nghiêm trang khi tôi được nhắc trước rằng hôm nay mình sẽ gặp một số người nói năng đủ thứ chuyện bản thân chẳng hề quan tâm, vì thế, lời khuyên cho tôi là cố tỏ ra lịch sự nhất có thể.

Giời ạ, kỳ thực thì tôi vốn thuộc loại rất thích lắng nghe ai đó tâm sự, và hầu như hay nhớ tới câu chuyện về sư cô Kisa Gotami với phiên bản khác đọc được có đoạn kết như này:

Theo cách ấy, sư cô đã đi từ nhà này sang nhà kia song không tìm thấy được ai có thể nhận được hạt cải mà cô cần, và cô nghĩ: “Ôi, một nhiệm vụ thật khó khăn. Mình nghĩ chỉ có mỗi mình là mất đứa con duy nhất, song ở mỗi ngôi làng thì số người chết nhiều hơn lượng người sống.” Khi cô phản tỉnh, trái tim cô vốn rung chấn mãnh liệt quá chừng giờ đây đã trở nên ổn định.

… Để các mối quan hệ tốt lành, họ phải mạnh mẽ và độc lập. Đương đầu với cơn thủy triều công kích thậm tệ của thế giới, các tình nhân phải tìm ra một phương thức để giữ gìn, duy trì nhau. Sự dữ dội thì thường hằng, liên tục. Luôn có điều gì đó đòi hỏi sự chú ý, đang âm thầm ăn mòn mối dây gắn bó. Song áp lực của thế giới có một phương thức để vượt qua. Những dòng lệ đầm đìa từng tỏ ra hữu ích, bảo bọc giờ chẳng còn kéo dài thêm được nữa.

Nhưng nước mắt cơ chừng đang chữa lành; chúng có cách để làm mềm mượt con đường bất luận những gì bị chà đạp, giày xéo; chúng dỗ dành sự nung rang và mang cuộc đời trở về bể thủy triều dậy sóng của những xao động, xay cắt hàng ngày. Vắng bóng những hòn đá lăn lóc của sức mạnh, tính cách và tình yêu kiên trì, nhẫn nhịn thì mọi thứ, tất thảy rồi ra sẽ biến mất. Những tảng lăn gồm cả sự bảo vệ và cô lập, để lại trên cát những bài học mâu thuẫn, trái ngược vô cùng. Lắm lúc ngõ hầu tồn tại ổn thỏa, con người ta phải làm bộ làm tịch, dù không quá mức, nếu không sẽ bị cuốn trôi sạch trong những cảm xúc nọ kia.

Ổn thôi, nếu bạn buồn song đừng kéo dài quá lâu. Kiếm tìm dòng nước dâng êm ái của sự tha thứ đối với vô vàn lỗi lầm và tính mong manh dễ vỡ của bản thân, và mình sẽ nhận ra cái tôi tiếp tục được bảo vệ.

Không có mối quan hệ nào hoàn hảo và với mỗi một, vài ba giọt lệ phải tuôn rơi. Các mối quan hệ tốt lành sống sót sau cuộc tấn công, các mối quan hệ lớn lao khám phá các ao nước vang động thủy triều.

Hãy vui thú trong hiểu biết rằng ngay cả điều này rồi cũng trôi qua, và mình có thể lại mạnh mẽ thêm lần nữa.

Mình thật nhất thiết cần trí thông minh để thành công?

Hồng như thể mình không trông mong gì từ trí thông minh
Hồng như thể mình không trông mong gì từ trí thông minh

Học viện Công nghệ Canergie từng có nghiên cứu cho rằng 85% thành công về mặt tài chính phụ thuộc vào các kỹ năng mang tính kỹ nghệ con người tức là việc tự quản lý và quản lý quan hệ, hơn là các phẩm chất di truyền hoặc nội tại như là chỉ số trí tuệ IQ và các năng lực phân tích.

Hơn một thập kỷ gần đây, nền văn hóa đại chúng cứ ôm choàng lấy khái niệm về trí thông minh như tập hợp các kỹ năng chính yếu để đạt được hạnh phúc và thành tựu nhiều mục tiêu cá nhân.

Tuy vậy, niềm tin bình dân thi thoảng liên kết trí tuệ cảm xúc (emotional intelligence) với sự thành đạt trong kinh doanh; hầu như quá thường thấy giả định thành công nằm trong các quan hệ liên nhân cách và người ta cho rằng thích ứng hơn cái sự thành công tại nhà so với ở nơi công sở.

Các khái niệm theo cổ truyền về trí thông minh có xu hướng nhắm chỉ người lợi thế về ghi nhớ và các năng lực phân tích, trong khi lại ghét bỏ người không được thế.

Kết quả là các cá nhân nào có thể bày tỏ các tài năng để có sự thành công trong đời có thể bị gán nhãn là không thông minh, trong khi một số đối tượng này được cho là thông minh lại ít được phú cho các tài năng trên.

Với mục đích riêng, nghiên cứu vừa dẫn xác định trí thông minh là khả năng thích nghi với môi trường và khả năng học hỏi từ trải nghiệm, và trí thông minh mang lại thành công được nhìn nhận như sau:

  1. năng lực đạt được các mục tiêu trong đời sống, với bối cảnh văn hóa- xã hội nhất định;
  2. nhờ biết đầu tư vốn liếng vào các sức mạnh và chỉnh sửa hoặc bù lỗ cho các điểm yếu;
  3. nhằm để thích nghi, định dạng, và chọn lựa các môi trường; và,
  4. thông qua một sự kết nối của các năng lực phân tích, sáng tạo, và thực hành.

Trong bối cảnh này, lượng giá về sự thông minh sẽ được đặt trên các mục tiêu cá nhân lựa chọn trước là cố kết hay không với các phương pháp xác định sẵn đặng thành tựu mục tiêu và các kỹ năng đã biểu tỏ trong tiến trình đó.

Hết sức tự nhiên, một người ước ao trở thành một chủ ngân hàng thành công sẽ không nhất thiết đặt để cùng một tập hợp các kỹ năng như ai đó đang muốn trở thành nghệ sĩ vĩ cầm nổi tiếng nhất thế giới.

Dầu vậy, cái nhìn của tác giả Sternberg và cộng sự về trí thông minh cơ chừng hồi quang với cả hai mục tiêu này. Nói khác, theo cảm nhận của họ, một người thông minh để tựu thành các mục tiêu kiểu thế không nhất thiết phải là các cá nhân sở hữu kỹ năng phân tích tuyệt hảo hoặc có trí nhớ siêu tuyệt, như quan niệm truyền thống về trí thông minh đòi hỏi.

Quà tặng cho các năng lực cơ bản

Một bài báo năm 2011 trình bày bằng chứng từ lĩnh vực đào tạo âm nhạc cho thấy các năng lực cơ bản– dạng người tài năng bẩm sinh– có thể dự đoán thành công với một dải ranh rộng với các nhiệm vụ cực kỳ phức tạp.

Theo đó, nghiên cứu thiết kế nhằm lượng giá xem thử việc rất chủ tâm thực hành liệu vượt qua nổi hiệu ứng mang tính quyết định của năng lực làm việc dựa vào trí nhớ trong chuyện chơi nhạc mà không cần nghiên cứu trước của người chơi dương cầm (ví dụ, năng lực chơi một đoạn không cần chuẩn bị gì cả); kết quả khẳng định năng lực làm việc dựa vào trí nhớ là một “chỉ báo tích cực của việc biểu diễn và vượt trên chuyện kỳ công luyện tập” và rằng không có bằng chứng xác thực cho chuyện càng tập luyện kỳ công thì có thể làm giảm hiệu ứng mà năng lực dựa trên trí nhớ bộc lộ khi trình bày.

Nói khác, theo các tác giả nghiên cứu thì thực hành, luyện tập không thể kiến tạo sự hoàn hảo nếu không có chút sự trợ giúp của bà mẹ tự nhiên.

Trực giác đối đầu nhận thức

Theo quan điểm của trường phái kinh tế học hành vi với đại diện nổi tiếng Daniel Kahneman thì lập luận của người ta được phân thành hai kiểu là trực giác (hệ thống 1) và cố ý, chủ tâm (hệ thống 2). Nghiên cứu của Kahneman đưa ông tới kết luận rằng, các cá nhân nào thường công nhận, cho phép trực giác ngay liền hoặc chấp nhận các ý tưởng và giải pháp đầu tiên xuất hiện trong tâm trí thì họ bỏ bê, không dùng đến sự thận trọng, suy nghĩ rốt ráo. Ngay cả trong những tình huống dường như đòi hỏi suy tư thấu đáo và lượng giá cẩn thận, chúng ta cơ chừng để mặc mọi chuyện cho nguyên tắc suy nghiệm và chứa chất tình cảm khống chế hơn hẳn khía cạnh lý trí của bản thân.

Tóm lại, dường như năng lực đặt để các mục tiêu, việc nhận ra các con đường mạch lạc để đạt được chúng, và dõi theo lập luận mang tính trực giác đủ lâu theo con đường thì chúng ta dễ đặt được các nền tảng chắc thật cho sự thành công cá nhân; và, lần nữa, thêm chút trợ giúp từ bà mẹ thiên nhiên tuyệt chẳng hề gây hại gì hết.

Một cái nhìn khác về nhân quả và tương quan

Gần xa đâu dễ đo, cả bể sâu giấu biệt
Gần xa đâu dễ đo, cả bể sâu giấu biệt

Từng nghĩ mình đã đề cập khá đủ đầy, chắc chắn tính nhân quả. Và kết thúc ngày mưa gió não nề giờ này lại bất chợt nhận ra quan niệm dị thường của Hume là rất đáng xem xét: cơ chừng không hề có một thứ gì như thế cả.

Khi đức Phật nói đến nhân quả, ngài không nhắm đến các cơ chế ẩn bên dưới hết sức huyền bí làm mọi chuyện xảy ra mà là đề cập các mẫu hình hay quan sát thấy: do cái này có mặt, cái kia có mặt; khi cái này sinh, cái kia sinh. Quan sát các mẫu hình này liên tục và thường xuyên, chúng ta có thể nói rằng một điều này là nguyên nhân gây nên điều khác. Song chúng ta không thể thấy được tự thân nguyên nhân. Nó đích thị là trò lừa mị của tri giác. Lúc quen dùng ý tưởng rằng tương quan không hàm nghĩa nhân quả, có lẽ điều thực sự đơn giản hơn muốn thể hiện: những gì gọi là nhân quả không khác chi hơn là tương quan chắc thật.

Bài báo nổi tiếng của Jonah Lehrer thảo luận trong bối cảnh của khoa học y khoa, và sự mờ tỏ nổi lên thật rõ ràng là trạng thái được ghi nhận do dựa cậy vào lối phân tích quy giản.

Cho dẫu thế, không nhất thiết cho rằng phân tích quy giản là sai lầm; nó chỉ không hoàn hảo mà thôi. Sự thành công của các khoa học ‘mềm’ như y khoa dường như kém hiển nhiên hơn hẳn khi so với vật lý học, cơ khí và các lĩnh vực tương tự. Bài báo thượng dẫn chứng tỏ lối phân tích quy giản chẳng những không thích đáng mà còn thậm chí gây hại, và thường bị tóm bắt sai sót trước thực trạng hỗn độn và phức tạp của đời sống con người.

Thực tế diễm tuyệt trong chiếc hộp

Albrecht Dürer - The Large Piece of Turf, 1503
Albrecht Dürer – The Large Piece of Turf, 1503

Tôi chắc chắn bản thân có lắm món hơn những thứ thấy cần thiết. Song theo trải nghiệm riêng tư không ít lần thì chúng ta luôn mang vác quá nhiều đồ so với suy tư mình lượng định.

Chuyện chuyển nhà từ năm nào xa lắc dạy cho tôi về tầm quan trọng của những chiếc thùng carton; thiếu chúng, tài sản đáng giá duy nhất là sách  vở biết sắp xếp vào đâu cho thật gọn gàng để chuyển đi nhanh chóng, tiết kiệm biết bao công sức gói buộc, mang lên, đặt xuống.

Lạm dụng mãi thành câu cửa miệng quen thuộc, mọi người cứ hay nhắc tới cụm từ “tư duy ngoài cái hộp”. Tôi đồ rằng, phải thoát ra từ đó thì mới suy nghĩ một cái gì rốt ráo khác biệt được. Thay đổi nhận thức, thay đổi viễn tượng. Sử dụng năng lực sáng tạo để xác lập lại các câu trả lời. Dường như thiên hạ chẳng thèm muốn vượt ra khỏi sự giam hãm của chiếc hộp- cuộc đời. Cũng còn nhớ đâu trong một bộ phim xem trực tuyến, nhân vật triết lý rằng cái gì không thoát ra được cũng là một dạng nhà tù giam hãm mình mà thôi.

… Một câu chuyện ấn tượng. Sự mù và lý tưởng. Người đàn ông Anh quốc đến tuổi 52 mới được ghép giác mạc.

Suốt đời mình, ông cố gắng hình dung ra cảnh vật trong thế giới. Ông mong mỏi cái ngày mình có thể nhìn thấy… Song cuộc phẫu thuật thành công lại kết thúc đời ông hết sức bi kịch… Ông nói rằng ông lưu ý ngày càng nhiều những bất toàn trong mọi thứ, và dự tính kiểm tra những điểm không đúng quy cách nhỏ nhặt và rõ ràng trong sơn và gỗ, khiến ông thấy khó chịu, thể hiện mong đợi hiển nhiên về một thế giới hoàn hảo hơn thế. Thích các màu sáng song ông dần trở nên trầm uất khi ánh sáng mờ phai. Chứng trầm uất hiển lộ. Ông từ bỏ lối sống hoạt bát và mất sau đó ba năm.

Theo bài báo, trái tim người đàn ông tan vỡ vì sự xấu xí của thế giới; minh họa  tinh tuyền nhất cho sự thất vọng của kẻ lý tưởng, và cũng là đối tượng kết nối miên viễn giữa chủ nghĩa lý tưởng với sự mù quáng.

Cứ y lời tác giả, bức tranh bên trên tỏ lộ tài hoa cả trong bàn tay lẫn đôi mắt nhìn của họa sĩ; rằng không chỉ với người đàn ông bị mù, chúng ta cần tiếp tục học hỏi để nhìn thấy rõ ràng mình thật tối dạ trước khi họa sĩ cho thấy nét vẻ phấn khích của bức tranh cây cỏ thiên nhiên.

 … Song không có những chiếc hộp, chúng ta không thể mang chuyển các đồ dùng. Hầu hết thế giới được tạo dựng cho sự tiện lợi, và theo cách để chúng ta thực hiện chức năng hiệu quả nhất. Chúng ta cần tính chắc chắn và dự đoán được. Đôi khi chúng ta khoét sâu đặng nhìn vào bên trong hộp song chúng ta vẫn còn cần đến chúng. Thật khó tưởng tượng toàn bộ thế giới sống “bên ngoài chiếc hộp”.

Bao điều tốt lành và xinh đẹp đến từ những chiếc hộp. Các giá trị, tính cách và cảm nhận của chúng ta về cái tôi đều chứa đựng trong những chiếc hộp. Không có chúng, chúng ta tất thành kẻ mắc tâm thần phân liệt hoặc các rối loạn tính cách.

Vì thế, trước khi “thoát ra ngoài chiếc hộp”, hãy chắc chắn mình biết các chiếc hộp ở đâu và trong đó chứa những gì. Thảng hoặc, chúng ta cần đổi mới, sáng tạo và thay đổi tư duy song trước khi đến đó hãy đoan chắc kiểm tra tính thiện lành nằm bên trong các chiếc hộp của mình. Lý do: chúng nắm giữ đôi điều hết sức đáng trân quý.

Tự phản ánh là yếu tính cho sự thay đổi hành vi. Hiểu biết mình là ai và tại sao mình thực hiện những gì đang tiến hành có thể thúc đẩy sự bừng ngộ nội tâm. Câu trả lời muốn tìm kiếm dễ chừng nằm ngoài tiến trình suy tư song đừng nhanh chóng loại bỏ căn cốt, bản chất của chính mình.

Nhà người cười dưới trần gian, hồn người tưới tắm muôn vàn thương yêu.
Nhà người cười dưới trần gian, hồn người tưới tắm muôn vàn thương yêu.