Lá thư trả lời vừa tròn 4 năm

Con là đứa vừa nãy gọi điện cho thầy ạ, con cảm thấy có lúc thì muốn mình thật là đông bạn bè tụ tập, có lúc lại chỉ muốn một mình, chỉ một mình, như con đã nói. Nhiều khi đi học về tự nhiên con thấy buồn rồi khóc mà chả hiểu tại sao mình lại buồn nữa, con sợ con bị mắc phải chứng tự kỉ hay trầm cảm gi ạ, với tâm trạng thất thường ảnh hưởng đến việc học của con lắm ạ, chứ con cũng ko để ý lắm người khác nghĩ sao về mình. Con nói một chuyện này cho thầy, có thể nghe ảo tưởng, nhưng có một giai đoạn con toàn mơ bị người khác rượt đuổi, lúc đó con sợ phải ngủ luôn, rồi có lần mẹ con dẫn đi xem bói, ng ta nói con bị người âm theo, nên nhiều khi con cứ mơ hồ sự tồn tại của mình, cứ hư hư thực thực. Mà con sống nội tâm, ít chia sẻ với ai, vì con không tin tưởng ai, con còn sợ khi tin tưởng ai họ phản bội mình, mình sẽ đeo mang thêm nhiều tổn thương, con cũng không muốn tha thứ cho một số người có hành động dù vô tình hay hữu ý, làm tổn thương con, dù con biết mình cũng muốn dc tha thứ chứ nói gì là người khác nhưng con ko làm được, nói chung trong con luôn tồn tại sự nghi ngờ. Con thấy mình rất dễ buồn và suy nghĩ những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống, con muốn sống vô tư như các bạn con mà sao khó quá thầy ạ?
————————–

Theo thư con mô tả thì có vẻ mọi thứ đã và đang diễn ra trong đời con như minh họa cho trạng thái đổi thay khá dễ hiểu của tuổi mới lớn vậy.

Tỷ dụ, chúng ta mơ tầm 7 giấc mỗi đêm song chỉ nhớ các giấc mơ nào đánh thức mình thôi. Các giấc mơ mang tính tổn thương cảm xúc, như kiểu con mô tả, là thông thường hồi thơ ấu. Giấc mơ hay phản ánh tâm trạng chúng ta: kẻ lo âu thì bị săn đuổi, người trầm uất mơ chết chóc, v.v… Giấc mơ cũng bao gồm các trải nghiệm về tuần vừa qua, kiểu các giấc mơ lựa chọn ghi nhớ vài điều mới xảy ra. Nếu một giấc mơ đủ đáng sợ, nó trở thành ký ức thường trực chứa đựng cảm xúc tạo nên giấc mơ, trong các ví dụ nêu trên là sự kinh hoảng, lo âu, sợ chết, v.v… Các ký ức chứa đựng cảm xúc lâu dài thế được gọi là ‘ký ức cảm xúc’.

Mọi người có một tập hợp các ký ức tốt và các ký ức xấu. Đấy là lý do tại sao chúng ta mỉm cười khi nhìn thấy một người bạn hoặc nghe một bản nhạc ưa thích, hoặc tại sao chúng ta tức giận ngay và luôn khi bị nhắc tới một sự kiện khó chịu trong đời. Hồi tưởng ký ức cũng kéo về các cảm xúc liên quan thời điểm đó.

Việc học hành hiện tại của con tạo ra tình huống tương tự cho ký ức cảm xúc thời thơ bé. Kết quả, bây giờ con giữ tâm thế đề phòng và cảnh giác cao độ với bất kỳ tình huống nào mà có thể tương tự với ác mộng thời thơ bé, là cảm nhận về *déja vu* ngỡ như từng thấy, biết trước í: kiểu lần đầu tiên nghe một bản nhạc và đoán tên bài hát. Não mình nhìn vào một bối cảnh rồi đoán ký ức nào khít với nó nhất, trong trường hợp này là ác mộng con gặp phải.

Bởi vì ký ức quá kích hoạt đến thế, đấy dễ là dấu chỉ rằng con đang trải qua một căng thẳng tinh thần (stress) trên mức trung bình vào giai đoạn hiện tại. Nếu chuyện ngủ nghỉ, ăn uống, tập trung hoặc năng lượng của con cũng gặp chuyện thì có thể là con đang trải qua một rối loạn lo âu hoặc trầm cảm. Khi trầm cảm chẳng hạn, não mình dùng ký ức cảm xúc để giày vò bản thân. Nếu con thấy mình đang trải qua các triệu chứng, dấu hiệu của trầm cảm hoặc lo âu thì thầy khuyến cáo con nên đến gặp chuyên gia tham vấn, trị liệu tâm lý để xem xét cụ thể tình hình như nào thử nhé.

Về vụ khóc lóc. Con biết không, đôi khi nhà trị liệu tâm lý già đầu vẫn có thể vẫn cứ âm thầm rơi lệ thê thảm trong tiến trình làm việc đó (đùa chút). Cơ mà ở đây, thầy muốn chỉ ra ngay là việc con khóc thì thuộc một dạng khẳng định, quyết đoán đó con: nhận ra mình cần cải thiện một điều gì đó và muốn tiến hành bước đi đúng đắn để chỉnh sửa, khít khớp nó. Học hành và giao tiếp bạn bè đôi khi thật mệt mỏi. Nếu con nhìn lại một ngày, chắc con sẽ thấy mình quyết đoán nhiều lần song đó chẳng phải là sự quyết đoán có thể đang khiến con rối rắm. Hầu hết các tình huống xã hội đòi hỏi sự quyết đoán là thường thôi (‘đây là bài kiểm tra toán của tôi’ hoặc ‘tôi không thích đi chơi game tối thứ Bảy’). Mọi người thường gặp rắc rối hơn nhiều với các tình huống quyết đoán vốn chứa đựng các cảm xúc mãnh liệt. Như con đã mô tả, khi một tình huống mang chứa cảm xúc khởi lên, cơ thể mình phóng thích adrenaline và các hóa chất khác góp phần hình thành cảm nhận ‘chiến hay biến’ (đương đầu hoặc bỏ chạy). Trạng thái phóng thích các hóa chất xúc cảm thế thường đưa một tình huống quyết đoán trở thành một tình huống xung hấn, nó cũng có thể là sự ngập tràn ghê gớm và tạo nên một sự quá tải về mặt cảm xúc khiến nảy sinh sự khóc lóc, ràn rụa nước mắt, run tay, lạnh tay, căng cơ, và chân giật giật…

Những nguyên nhân lớn nhất của các vấn đề tương tự có thể là:

– Thiếu kinh nghiệm xã hội. Đây là điều rất thông thường ở tuổi mới lớn. Các bạn ở lứa tuổi ấy có các phản ứng đậm tính cảm xúc ghê gớm, hết sức vi tế do thay đổi hormone và dậy thì; ít kinh nghiệm giải quyết các tình huống xã hội phức tạp đòi hỏi rất nhiều xác quyết cảm xúc mạnh mẽ mà tạm chưa kiểm soát được. Theo năm tháng, người lớn phát triển các kỹ năng xã hội tạo sự quyết đoán, thậm chí ngay trong các tình huống cảm xúc, với nhiều khả năng kiểm soát hơn. Nói công bằng, không phải người lớn nào cũng giỏi giang trong kỹ năng kiểm soát sự quyết đoán, dứt khoát về mặt cảm xúc đâu con, bởi thực tế chắc con từng thấy ở chốn công cộng vẫn có các cô chú, anh chị nổi cơn tam bành đó thôi. Trong vụ này, con có thể tuần tự luyện tập để dần quyết đoán hơn mỗi ngày. Đưa ra ý kiến, quan điểm của cá nhân con là dạng quyết đoán mà con có thể thực hành ngay đó.
– Lần nữa, như đã nêu, ký ức cảm xúc thường tạo nên tình huống mà con kể. Não bộ chúng ta nhớ các tình huống cảm xúc và ghi lại cả tình huống *và* các cảm xúc mình cảm thấy tại thời điểm đó. Nếu mình từng bị chó cắn, lần tới gặp một chú thì mình dễ cảm thấy tê hãi (cảm xúc) và nhớ lại lần bị táp trước đây (tình huống). Nếu ba má mình hoặc ai đó khác đã có phản ứng xung hấn khi mình bày tỏ ý kiến thì mình có thể dần bị tổn thương khi muốn biểu đạt chính bản thân mình. Việc con khóc và cảm thấy cảm xúc mơ hồ, khó chịu, nặng nề thì đích thị ký ức của con sợ hãi hậu quả mà con từng biết ít nhiều trong quá khứ. Thầy từng làm việc với một chị trẻ tuổi hay nhăn mặt lại mỗi khi chị ấy biểu đạt cảm xúc. Rồi chúng tôi phát hiện là mẹ chị ấy có thói quen bị thôi thúc không kiềm chế được nên hay tát tới tấp chị í mỗi khi không hài lòng với lời đáp trả của con gái. Vẻ mặt nhăn nhó lạ lùng là ‘ký ức cảm xúc’ của trạng thái bị tát lặp đi lặp lại và não bộ của cô gái trẻ sẵn sàng cho một cái tát khác mỗi khi cô gái biểu đạt cảm xúc bản thân, ngay cả với người lạ.
– Lòng tự tin không cao có thể cũng làm nảy sinh phản ứng như con kể. Có thể con cảm thấy ý kiến mình cơ chừng không đáng giá hoặc không đúng đắn. Nếu con từng bị chỉ trích vì phát biểu của mình trước đây (lần nữa, ký ức cảm xúc đó) thì con dễ chần chừ khi bộc lộ bản thân. Con có thể tìm kiếm sách vở để cải thiện lòng tự tin và cảm thấy bản thân có giá trị. Con cũng có thể khởi sự bộc lộ bản thân từ các tình huống không gây đe dọa chút chi cho tới tăng dần lên các tình huống chứa đựng cảm xúc mãnh liệt trong khi biểu đạt. Ở tuổi con, còn nhiều thời gian và cơ hội để thực tập vụ này mà nhỉ.
– Một mức độ stress cao có thể khiến cho việc biểu đạt cảm xúc trở nên trục trặc, khó khăn; nếu đúng đây là trường hợp của con thì hãy làm sao để giảm thiểu stress (đỡ căng thẳng, thấy thư thái) đồng thời cải thiện, tăng lên sự tự tin. Nếu cần, con có thể nhờ trợ giúp của chuyên viên tư vấn học đường hoặc đến trung tâm tham vấn tâm lý phù hợp.

Ghi nhớ rằng có một phản ứng mang tính cảm xúc khi mình biểu đạt bản thân là điều rất bình thường. Nếu được kiểm soát và sử dụng đúng đắn, nó tạo ra ‘lửa’ trong cách nói năng, kịch tích trong hành động, chất ‘mãnh liệt’ của lối biểu đạt đậm tính nghệ sĩ, và sự quả quyết trong hứa hẹn nữa đó con. Cầu chúc yên an.–

Nơi chẳng ai muốn tới

Phim hoạt hình Hành Trình của Moana (Moana, 2016) đã chứa đựng lắm thứ kỳ thú và sâu sắc khó ngờ; giúp chúng ta khám phá con đường tâm linh thêm phần sáng giá.

Phát hiện cách bản ngã (ego) và sự gắn bó (attachment) gây nên đau khổ miên man.

Và học hỏi từ trải nghiệm về nơi chẳng ai muốn tới.

‘Người khôn’ là ai?

Thấy trên tờ lịch treo tường hôm nay, ‘Hoa thơm ai dễ bỏ rơi, người khôn ai nỡ nặng lời với ai‘.

Thử tìm hiểu thêm ở mạng lưới điểm toàn cầu, nhiều phiên bản liên quan lắm; chẳng hạn, thay ‘dễ’ bằng ‘nỡ’, ‘nặng lời làm chi’ chứ không phải ‘nặng lời với ai’; rồi thì là thể hiện hoàn toàn khác ‘Kim vàng ai nỡ uốn câu, người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời’. Câu ca dao thượng dẫn cũng được giải thích cụ thể luôn: Một người con gái đẹp thì sao nỡ làm họ đau lòng hay bỏ rơi họ; người khôn khéo không bao giờ dùng lời lẽ xúc phạm người khác tổn thương mà họ chỉ dùng lời lẻ ngọt ngào ý nhị để cư xử thôi (sic). Có chỗ phân vai rõ ràng, nên ‘Kim vàng…’ thì trỏ người nói, còn hàm ý câu ca dao đang bàn là phần thưởng người nghe khôn ngoan được đón nhận.

‘Người khôn’ e là nỗi niềm khát khao, nên mới thành hình câu chữ thẳng tuột ‘Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho kẻ dại vừa mừng vừa lo’, hoặc ‘Chim khôn kêu tiếng rảnh rang, người khôn ăn nói dịu dàng dễ nghe’.

Vậy là kỳ cùng, dù kín đáo hay phơi lộ, chí ít với sự ví von một bông hoa thơm, ‘người khôn’ được xác lập, định dạng thông qua vẻ đẹp hoặc mùi thơm của lời nói thì đến từ sự thực hành.

Tạm chưa xét tới khía cạnh văn bản, ở đây chủ yếu tò mò với đại từ phiếm chỉ ‘ai’. Và với câu ca dao trên cuốn lịch treo tường, ‘ai’ nhiều thế gợi nhắc lại cách nghĩ về ‘khôn ngoan’.

Điều chúng ta làm và chúng ta là ai thì xoắn bện với nhau. Sự ‘khôn ngoan’ thì trống rỗng, không đồng nghĩa là chẳng có gì; nó đích thực rằng mỗi một điều chúng ta gặp gỡ, bao gồm cả chính bản thân chúng ta, vượt qua khả năng chúng ta nắm bắt về nó. Gọi ‘trống rỗng’ (emptiness) vì không có chi khả dĩ giải thích nó. Thực tại tự thân trống rỗng vì chúng ta không thể khít khớp nó với tâm trí chúng ta.

Sự khôn ngoan đích thực vượt trên suy tư và tri giác; không gian trống rỗng vì vậy. Nên khôn ngoan không phải là điều gì đó chúng ta sở hữu và chúng ta dùng để đánh giá về những thứ khác. Khôn ngoan là sự tồn tại tự thân. Chúng ta nhận thức và tận dụng nó. Nhưng chúng ta không tạo ra nó. Một người khôn ngoan là kẻ hoà hợp với sự khôn ngoan đã tồn tại sẵn xung quanh. Chúng ta bảo vệ sự khôn ngoan này bằng cách để nó được là chính nó.

Một người có thể khôn ngoan lúc này và sau đó là kẻ ngốc nghếch. Khôn ngoan là thứ mong manh và trân quý phải được giữ gìn và duy trì; nó không tự động và cũng chẳng dễ dàng có được. Đấy là lý do cần học hỏi từ bất kỳ ai, bất luận vị thế của họ giữa đời, nếu người đó nói hay làm điều gì khôn ngoan. Chúng ta không nhất thiết tôn sùng ai đó đặc biệt. Chúng ta tôn sùng tự thân sự khôn ngoan.

Rời khỏi phòng

Đó là một quyết định khó khăn mà đến giờ vẫn chưa triển khai cụ thể. Chiếc lá non xanh mới hé thấy háo hức quá nên đã vội ghé tai hỏi nhỏ: bao giờ thì chúng sẽ chuyển hướng sang bất kỳ điều chi, bởi vì tôi đang vui thú chốn này. Sự trú ngụ, vâng, căng trải đó đây có thể rốt ráo chẳng ước muốn bao giờ nói ‘không’.

Rõ là khi nhìn thấy sự vô thường trong mọi thứ: cách mọi điều mình gắn bó và phụ thuộc, những thay đổi, chia tay hoặc dần đến băng hoại, rã tan, chỉ thấy duy mỗi còn lại là những quấy nhiễu đậm cảm xúc; cảm xúc bất an, cô độc, sợ hãi, lo lắng, hoang mang, và bất hạnh. Cách duy nhất đặng tìm thấy hạnh phúc là học cách kiểm soát cảm xúc và làm bình lặng tâm trí, nhờ thay đổi cách mình suy nghĩ. Chúng ta buộc phải dần thôi dính bám vào các thứ và độc lập về mặt cảm xúc. Đấy là chuyện làm được thông qua hiểu biết rằng chúng ta tuyệt đâu sở hữu điều chi trên thế giới này, bao gồm cả những gì ta gọi là chính bản thân ta: cơ thể, tâm trí, và tinh thần.

Rời căn phòng ngôn ngữ song đừng sử dụng các từ như vũ khí làm đau và gây hại kẻ khác khủng khiếp. Bởi vì đích thị chúng ta dễ làm điều ấy lắm; chỉ bởi vì có thể nói điều gì không đồng nghĩa rằng nên thế. Có lẽ một trong những bài học lớn lao nhất trong đời là biết rằng khi nào thì nên im lặng. Vâng, mình không thể nói điều gì đẹp đẽ…

Giữa ngày xuân làm thinh, mình đang cố tìm thấy thật chủ động cách nào mang lại nụ cười và niềm vui với các câu chữ đầy quyền năng mãnh liệt; nó không đòi hỏi trả giá gì và e chừng, thoáng chốc là ai đó sẽ cảm thấy được quan tâm ấm áp. Song điều gì đó cần thời gian, tỷ như có tình bằng hữu, niềm tin và sự yêu thương được gạn lọc thật chậm rãi. Vào cuối ngày, chúng ta sẽ nuôi dưỡng theo cách thức thật lành mạnh. Một chút một để kiến tạo điều tốt sau cùng.

Rồi ắt sẽ có ngày ra đi… Điều quan trọng là chúng ta luôn để lại trong căn phòng nhỏ bé nhiều thứ ngoại hạng trong đời. Đấy là tình yêu, đam mê và lời nguyện cầu đích thực làm chúng ta cảm thấy đủ đầy. Hài lòng nơi căn phòng tạm thời một chiếc lá xanh non mới hé. Sự thật tới với mình, mình nhận ra nó bởi vì nó khiến mình hạnh phúc.

Thường thôi

Tâm hay đầu trò gây rắc rối, trước khi cuộc đời tạo tác đủ thứ tào lao và phiền não khiến ta lên bờ xuống ruộng. Nên chi, khởi sự lại thái độ đúng đắn cần có: thường- thôi. Từ bỏ rồi sau đó duy trì trạng thái bình thường.

Dấu hiệu tuyệt diệu và cao cả nhất của tự do là nó cho người khả năng thả xuống và từ bỏ; hàm nghĩa đi kèm trách nhiệm cùng sức chịu đựng khổ đau nếu theo đuổi những gì mình đã xác quyết, lựa chọn. Mí nữa, ấy cũng là dịp tung tẩy tạo tác nên bao mở rộng, thu hẹp, giả định và thử nghiệm đáng giá khi tháng năm dần trôi và qua nhanh.

Hình dung lộ trình đặng bước vào nơi chốn không sinh không diệt, mọi hiện tượng biến chuyển liên lỉ chẳngngừng nghỉ hoặc trạng thái không dính mắc đòi buộc mình học hỏi về rộng lượng; thiên hạ thay vì rên rỉ về quá khứ thì nên rỉ rên về sự càm ràm bất tận về dĩ vãng đã qua. Vì nếu không giành lấy thời gian và tiến hành điều cần làm ở- đây- và- ngay- bây- giờ thì e mãi mãi chẳng bao giờ thực hiện nổi hoặc ê chề lỡ hẹn, nuối tiếc ngập tràn.

Từ việc thải loại, tống khứ các đồ vật cá nhân vụn vặt, một hôm bừng tỉnh về sự từ bỏ sâu xa ‘tam độc’ khủng khiếp là tham lam (gắn dính), ghét bỏ (ác cảm), và sân si (ngu dốt). Đáng lưu ý, coi chừng mất các thứ gắn bó lâu nay thậm chí có thể khiến mình vụt trở thành ác cảm.

Dù no đói, lạnh rét, nắng mưa, thiếu đủ thì đừng bao giờ quên rằng ta ở đây để nhìn thấy mọi thứ rõ ràng và sáng tỏ. Muốn thế, phải tĩnh lặng và hài hòa.. Một cái tâm bình thường để thấu hiểu thực tế đời sống. Hết sức cảnh giác với khao khát trở thành và ham muốn những gì phi thường, thi thoảng bị thôi thúc bỏ chạy, vượt thoát, sa ngã hoặc mò mẫm; với nỗ lực trông chừng, cần gắng đưa tâm trở lại. Đừng cực đoan, thái quá. Khám phá tính vô thường, khổ, vô ngã; và không theo đuổi hoặc mong muốn những gì bộc lộ tính vô thường và đem lại nỗi khổ niềm đau.

Tập trung quan sát mọi thứ đến và đi. Thư thái, bình thản, tinh tấn, và sáng tạo.

Dấu nhắc dở dang

Bất đối xứng

Đôi khi, tất cả những gì ta có thể là viết. Gõ xuống cái laptop bạn cho mượn, và ngồi yên trong bộ quần áo của một người khác thoải mái thải ra.

Đọc vội những dòng chữ thời sự về Bob Kerrey qua cái nhìn của người thân nạn nhân cũng như lãnh đạo chương trình liên quan vụ thảm sát, dễ thấy ngay còn thiếu hẳn một sợi dây buộc ràng, xâu chuỗi và kết nối bền chặt. Chẳng phải quan điểm phía Hoa Kỳ, chẳng phải tâm tư bên cựu quân nhân Việt Nam Cộng sản, ngay cả với chút thầm thĩ sẻ chia kèm theo nhu cầu liên hệ bản thân sâu kín rất người của nhà văn Nguyên Ngọc vừa mới đẩy lên vài ba tiếng đồng hồ (trên Văn Việt) đâu.

Vốn lẽ nhăng nhít ở đời thì động cơ, cái tại sao của hành vi í, lắm lúc khó tìm biết rạch ròi. Con chữ lạc phận nghịch duyên này giờ đây hóa thành thứ khỉ gió nỏ ma quỷ hay thánh thần nào dung chứa toàn bộ. Là dấu chỉ hùng hồn còn lê la mãi đến hôm nay của một thời sợ vãi cả linh hồn, đái són ra ướt hết đến nỗi con dân Việt thượng vàng hạ cám, trọng khinh nghèo giàu chi thảy đều ám ảnh theo kiểu lờ tịt đi và cố gắng xua bỏ, gạt phắt kinh khiếp hơn cả đuổi tà. Hiện rõ lên bức màn sinh tử quyết liệt đằng sau ấy chính là quyền lực thống trị khủng khiếp tập thể vô hình của chế độ nghiễm nhiên tồn tại mấy chục năm rồi.

Dựa trên thuật ngữ dùng kèm mô hình 6 mức độ của nhà tâm lý trị liệu Marsha Linehan (cách tiếp cận DBT), một chiến lược đơn giản như đang giỡn để cải thiện các quan hệ liên nhân là hiểu biết về độ hiệu lực, chuẩn thuận (validation): cách làm sao để chấp nhận. Bởi chuẩn thuận là cách truyền thông chứng tỏ chấp nhận bản thân mình và (những) người khác; không có nghĩa nó là tán dương hoặc đồng ý. Một kiểu thể hiện trợ giúp và củng cố quan hệ trong khi vẫn duy trì quan điểm khác biệt. Thái độ đúng đắn vậy thì chơi với nhau mới bền lâu, thiết thực xác quyết rằng quan hệ là quan trọng.

Chuẩn thuận là thấy ra và chấp nhận các cảm quan, tình cảm, suy tư và hành vi của tha nhân là có thể thấu hiểu được. Tự chuẩn thuận là thấy ra và chấp nhận các suy tư, cảm xúc, cảm quan và hành vi của chính bản thân mình là có thể thấu hiểu được,

Còn có thể viết, còn có thể ngồi xuống, còn có thể nhìn thấy nhau, còn có thể phát ngôn nghĩa là còn có cơ hội. Nghĩa là rốt ráo may quá, còn sống sót, còn phát triển, thay đổi và chuyển hóa trên hành trình phụ thuộc lẫn nhau. Dù dấu nhắc dở dang và đớn đau đến mấy; từ khía cạnh cá nhân đơn lẻ hay dọc dài lịch sử một dân tộc…

Chối bỏ như một cơ chế phòng vệ

Với người nhiễu tâm (neurotics), chối bỏ (denial) là cơ chế phòng vệ vô thức bảo bọc họ chống lại trải nghiệm đớn đau không chịu đựng nổi. Với kẻ bị loạn tâm (disorderded), những gì chúng ta quen ghi nhận như các cơ chế phòng vệ vô thức (chối bỏ chẳng hạn) thường là các sách lược có tính toán nhằm khôn khéo tạo ấn tượng, diễn trò, và lảnh tránh trách nhiệm.

Dạng nhiễu tâm dùng nhiều thứ cơ chế nội tâm đặng chống giữ, che chắn trước trải nghiệm nỗi đau cảm xúc và làm khuây khỏa lo âu. Hầu hết mọi người nghe nói về các ‘cơ chế phòng vệ’ cơ bản này. Đấy là các công cụ *vô thức*, dù quyền năng song tỏ ra không thích đáng hoặc không luôn luôn cực kỳ lành mạnh tựa các cách thức giảm bớt nỗi đau cảm xúc. Các ‘triệu chứng” mà cá nhân kẻ loạn tâm khiến nhà trị liệu chú ý là kết quả lo âu sót lại hoặc nỗi đau cảm xúc vẫn còn đó sau việc dùng chẳng mấy hiệu quả một hoặc nhiều các ‘cơ chế phòng vệ’ đặc thù. Vào những dịp khác, một người dễ nhờ cậy trợ giúp bởi vì ‘các phòng vệ’ dần tăng thêm sự thiếu thích ứng hoặc bắt đầu bẻ gãy, để mặc nỗi đau cảm xúc ẩn bên dưới chúng nổi lên bề mặt.

Các tính cách loạn tâm dấn thân vào một số hành vi quá ‘tự động’ đến độ gợi ý nghĩ thực hiện chúng hoàn toàn vô thức. Thoạt nhìn, các hành vi này giống với các cơ chế phòng vệ và dễ diễn giải thành như thế, nhất là bởi các cá nhân bị ngâm quá mức trong các hệ hình truyền thống. Tuy vậy, xem xét kỹ càng hơn, các hành vi này chính xác ra phải được gọi tên là những sách lược diễn trò, mánh lới gây ấn tượng và chống kháng trách nhiệm.

Lấy ví dụ về một người phụ nữ kết hôn và sống cùng chồng 40 năm nay, và bà vừa đưa ông vào bệnh viện vì trong khi họ làm việc ngoài vườn thì ông ấy chợt nói năng khó khăn rồi trông có vẻ kiệt quệ. Các bác sĩ chẩn đoán chồng bà bị đột quỵ, giờ não đã chết và sẽ không hồi phục được. Dẫu thế, mỗi ngày bà vẫn vào bên cạnh giường ông, nắm tay và trò chuyện. Các điều dưỡng bảo ông không thể nghe thấy song bà vẫn nói với ông hàng ngày. Các bác sĩ bảo ông không hồi phục được song bà thì tự nhủ với bản thân rằng ‘tôi biết ông ấy sẽ qua khỏi, ông ấy là một người đàn ông mạnh mẽ’. Người phụ nữ này đang ở trong một trạng thái tâm lý lạ lùng: trạng thái chối bỏ. Bà rất khó khăn để tin những gì diễn ra. Mới đây thôi, bà còn ở ngoài vườn cùng ông, thích thú bên nhau làm công việc ưa thích. Trước hôm xảy đến sự cố một ngày, họ cùng nhau đến thăm gia đình một người bạn. Ông ấy cơ chừng toát lên nét vẻ thật hạnh phúc và khỏe mạnh. Ông ấy không đau ốm gì lắm khi bà đưa vào bệnh viện. Thế mà, trong chớp mắt thôi, họ đang nói rằng ông sắp chết. Nỗi đớn đau thấm đẫm cảm xúc này bà chưa từng phải chịu đựng. Bà không sẵn sàng chấp nhận việc người đàn ông đầu ấp tay gối suốt 40 năm qua sẽ không về cùng nhà với bà nữa. Bà không chuẩn bị tinh thần cho việc sống cuộc đời vắng bóng hình ông. Vì vậy, tâm trí vô thức cung cấp một phòng vệ hiệu quả (hầu như tạm thời) để bà chống lại nỗi đớn đau. Rồi dần mai một, khi bà đủ khả năng chấp nhận thực tế phiền não, sự chối bỏ của bà bị bẻ gãy, lúc ấy, nỗi đau bấy lâu tích chứa phun trào và bà sẽ xót buốt cõi lòng ghê gớm.

Một ví dụ khác về cái gọi là ‘chối bỏ’. Nam (tên giả), quen bắt nạt trên lớp, đi dạo với một trong các bạn học không nghi ngờ gì rồi tiến hành giật tung cặp sách bạn đang cầm, đá tung tóe sách vở khắp nơi dưới sàn nhà. Đúng lúc đó, giám thị hành lang bắt gặp nên nghiêm nghị hét lên “Nam!”. Cậu bé mở rộng vòng tay, làm cử chỉ ngạc nhiên và biểu tỏ vẻ mặt ngây thơ vô tội “Cô gọi gì em ạ?”. Liệu Nam đang sống một tâm trạng khác? Trạng thái thay thế này có thể giúp cậu chịu đựng nỗi đau cảm xúc? Nam không thực sự hiểu chuyện gì vừa diễn ra hay cậu ta nghĩ rằng mình nào có làm điều gì đâu cơ chứ? Cậu ta quá héo hon vì tội lỗi và/ hoặc tủi hổ vì điều mình gây ra đến độ cậu đơn giản không thể tin nổi mình thực sự đã làm chuyện khủng khiếp? Khả năng câu trả lời là Không. Nam chắc chắn quan tâm nhiều tới chuyện cậu ta có thể bị trừng phạt, kèm với lời thông báo tới bố mẹ, và thậm chí có thể bị đình chỉ học tập. Nên cậu chuẩn bị thử một chiến lược dài hơi. Cậu sẽ làm hết sức để vị nữ giám thị tin rằng không thực sự thấy những gì đôi mắt mình đã ghi nhận. Sảnh đường đông nghẹt. Có thể là ai đó khác chăng. Có thể hành động ấy chỉ là ‘tình cờ’. Nếu cậu ta thể hiện vừa đủ vẻ ngạc nhiên, ngây thơ, và sự phẫn nộ chính đáng thì biết đâu chừng, đúng là biết đâu đấy, cô giáo sẽ bắt đầu tự nghi ngờ bản thân. Cậu bé hy vọng, không giống mình, cô giáo có thể là dạng nhiễu tâm (chẳng hạn, mang lương tâm thái quá và cảm giác cực đoan về tội lỗi hoặc tủi hổ) để nghĩ rằng cô giáo có thể đánh giá nhầm tình huống, có thể cô giáo thậm chí tự mắng mỏ bản thân vì vội vàng quy kết hoặc dễ góp phần gây nên một nỗi đau cảm xúc. Sách lược này từng được việc rồi, có thể nó sẽ lại tiếp tục được việc lần nữa.

Ví dụ vừa nêu dựa vào một trường hợp có thật. Đáng lưu ý, khi ‘Nam’ nhận ra cậu ta không thể diễn trò với giám thị hành lang, cậu bất đắc dĩ ngừng việc chối bỏ và nói rằng, ‘Vâng, có thể em làm thế thật song cô giáo giám thị đã tin chắc vậy vì cô ấy luôn nói xấu về em’. Nam đang dùng một số chiêu thức khác để diễn tiếp trò sắp đặt, dẫn dắt và tạo mánh khóe gây ấn tượng; điều quan trọng nhất cần nhận ra là không giống với những gì xảy ra trong trường hợp chối bỏ tâm lý đích thực như một cơ chế phòng vệ, vụ của Nam không cho thấy nỗi thống khổ được biểu lộ và thể hiện buồn thương khi sự chối bỏ kết thúc. Lý do đơn giản là tự bản thân Nam chưa bao giờ ‘chối bỏ’ (trạng thái tâm lý). Cậu ta chỉ đang nói dối thôi, và dần cậu ta ngừng việc nói dối vì chuyện đó chẳng dẫn cậu ta đến đâu cả. Cậu ta chuyển từ việc nói dối sang xin lỗi và hành hạ nạn nhân cũng là các chiêu trò dẫn dắt và mánh khóe gây ấn tượng hiệu quả.

Không thể nhấn mạnh đủ rằng ‘chối bỏ’ của người phụ nữ lớn tuổi bất hạnh thì không giống với sự ‘chối bỏ’ của cậu bé bắt nạt bạn học tên Nam. Một là cơ chế phòng vệ, một thuộc chiêu trò dẫn dắt và lảng tránh trách nhiệm; một là cơ chế vô thức bảo bọc người ta khỏi nỗi đau khổ cảm xúc sâu thẳm, một là lời nói dối được tính toán và cân nhắc rõ ràng.

Tuy thế, thực tế nhiều vị dùng cùng thuật ngữ để mô tả các hành vi rất khác hẳn nhau này. Ít nhiều cảm thấy khó chịu khi ngay cả người hành nghề chăm sóc sức khỏe còn xem là chỉ có mỗi một dạng chối bỏ và họ thường giả định rằng hễ cứ nhắc tới chối bỏ thì bó nó vào mớ cơ chế phòng vệ phức tạp. Nghe họ nói về thân chủ cứ ngoan cố ‘phòng vệ’ thuộc hành vi có vấn đề này khác khi thực chất, họ đang mô tả thân chủ còn tiếp tục ‘nói dối và trình diễn’ như phần của trò chơi bày đặt gây ấn tượng và lảng tránh trách nhiệm. Lần nữa, ‘chối bỏ’ e là một trong các thuật ngữ sức khỏe tâm thần dễ bị dùng sai.

Vụt thấy khoảng tối thoáng qua của tâm lý học

Một người quen đến khám bệnh, bác sĩ cho cậu ta dùng một loại thuốc được dặn trước là có thể khiến hệ thống miễn dịch suy giảm rồi dần nhiễm virus lây lan. Không có chuyện đùa tếu gì ở đây cả. Bác sĩ giải thích rằng thuốc ấy là thứ đầu tiên làm bệnh nhân dễ tổn thương và cơ thể anh ta sẽ có nhiều khả năng chống kháng các vi khuẩn trong tương lai khi hồi  phục căn bệnh. Một cơ chế phòng vệ tự động được kích hoạt nhằm chống lại sự lây nhiễm vi khuẩn.

Giống như đang đến điểm tập thể hình và luyện tập thật chăm chỉ. Mình sẽ cảm thấy khô họng, mỏi mệt rã rời vài ngày tới rồi các cơ bắp theo thời gian săn chắc hơn lên, tự điều chỉnh từ từ và sẽ càng có thêm khả năng nâng nhiều vật lớn nặng.

Đây chính xác tựa cách các bác sĩ tâm thần có khả năng chữa lành những rối rắm cũng như đưa ngược trở lại các chức năng thân- tâm an lạc.

Trong cuốn sách về tâm lý của sự thuyết phục, tác giả thảo luận về làm sao chúng ta có thể tạo đòn bẩy bằng các kỹ thuật tâm lý giúp khách hàng mua sản phẩm mình đang chào bán. Không chỉ dùng trong thương mại, các kỹ thuật ấy còn được sử dụng nhằm thuyết phục và gây ảnh hưởng cho bất kỳ sự đấu thầu hay mệnh lệnh nào chúng ta mong muốn.

Bộc lộ những sai lầm, khiếm khuyết

Một cách để giành được sự tin tưởng của tha nhân là thay vì thể hiện sức mạnh thì nên bộc lộ những sai lầm, khuyết thiếu. Khi mình có khả năng chấp nhận những lầm lạc và sai sót, người sẽ lập tức thoải mái với sự hiện diện của ta vì họ cảm thấy siêu việt hơn. Hầu hết mọi người ghen tỵ với những ai thành công hơn họ, đặc biệt với bạn bè thân thiết.

Nếu mình là nhân viên bán hàng, trước tiên nên luôn lộ ra các khiếm khuyết của sản phẩm nhằm giảm thấp sự phòng vệ của khách mua. Hầu hết nhân viên quá chăm chắm bán các ưu điểm của sản phẩm đến độ làm cho khách cảnh giác rằng nhân viên đang cố đi đến việc kết thúc cho nhanh chóng.

Luôn dành lời nói tốt đẹp về người khác

Đừng bao giờ nói xấu sau lưng. Ai đó đồn thổi với ta về những sai sót của kẻ khác thì chẳng mấy chốc, chính mình lại có thể trở thành đối tượng bị đồn thổi. Điều ấy sẽ thúc mình phòng vệ với kẻ này.

Mình nên luôn dành lời nói tốt đẹp về ai đó vắng mặt. Điều này khiến người ta cảm thấy dễ chịu khi có mặt mình và sẽ tin mình vì họ biết mình dễ thương với phát ngôn tích cực. Nếu khó chịu với ai đó, mình phải đối chất ngay để khỏi giấu che sự bực bội.

Có qua có lại

Nếu cần một sự quý mến từ tha nhân, đầu tiên mình nên đề cao giá trị của họ. Tỷ dụ, đang trên tiến trình giới thiệu và rao bán sản phẩm thì mình uống nước. Ngay lập tức mình đưa một chai nước đóng sẵn khác với lời mời lịch sự, điều này sẽ nảy sinh nhu cầu qua lại khi khách cảm thấy mang ơn. Vì thế, lúc đề nghị thỏa thuận giá cả, họ sẽ cảm thấy nhu cầu đáp lại điều được nhận; làm tăng thêm xác suất họ lựa chọn mua hàng.

Vậy nếu cần sự ghi nhận quý mến, hãy thử cung cấp cho người ta trước tiên một giá trị nội tại mềm mại nhằm đào sâu nhu cầu có qua có lại về sau…

Sự kiểm chứng của xã hội

Khi số đông đang thể hiện một hoạt động đặc thù, nó tạo điều kiện cho chúng ta bước vào việc quyết định với một kịch bản soạn sẵn. Giả dụ mình đang làm việc tại một hội chợ khuyến mãi tưng bừng náo nhiệt và nhịp điệu diễn ra rất nhanh thì mình có thể chứng thực được cách thức làm sao tận dụng sự kiểm chứng về mặt xã hội để hưởng đặc ân. Công ty mình lo cài đặt các thiết bị âm thanh cho dân cư trong vùng, rồi không ngừng mở rộng và tăng cao thêm sự kiện là ngày càng có nhiều người đứng xếp hàng khi rất đông đang mua sản phẩm đặc biệt này.

Điều ấy thôi thúc khán giả đang nghe mình bước vào kịch bản tự động của việc quyết định mua ngay.

Trạng thái hiếm hoi

Dẫu có đông khách hàng, mình phải bảo họ rằng số lượng sản phẩm không dồi dào nhằm kích hoạt phản ứng lựa chọn mua hàng trong tâm trí họ. Biết sản phẩm sẽ loáng cái hết sạch, khách hàng sẽ không chần chừ ra quyết định đặt hàng. Với người đang lưỡng lự  hoặc phân vân xem thêm sản phẩm của đối tác cạnh tranh, sử dụng kỹ thuật này có thể khiến họ thay đổi dự tính.

Chẳng hạn, có thể bảo với khách hàng rằng công ty chỉ còn lô hàng cuối trong kho sẽ khiến khách hàng muốn vồ lấy.

Nối kết các điểm trên và mình sẽ cải tiến, hoàn thiện hơn mối quan hệ với bạn bè, người yêu cũng như thăng tiến nghề nghiệp của bản thân. Thực tế, không ai sẽ thiết tha gắn bó và yêu mến mình lắm nếu mối quan hệ quá dễ dàng đạt được. Cách tiếp cận lý tưởng là tạo cho tha nhân nhu cầu làm việc vì sự chu đáo, ân cần của mình. Như cách săn việc trong một công ty danh giá với vòng trong vòng ngoài đầy người để được lựa chọn. Thậm chí, nếu mức chi trả có ít ỏi và kém cỏi, sự bất hòa về mặt nhận thức sẽ xuất hiện và khiến chúng ta hợp lý hóa cách thức suy nghĩ rằng đây là cơ hội tuyệt vời, bởi vì mình phải tốn nhiều công sức và thi thố nên mới được vào.

Đòi hỏi cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt

Tâm trí luôn biểu tỏ dự tính, quá dễ thấy với các hoạt động lý tính như sự giải quyết các vấn đề liên quan đến toán học chẳng hạn; song điều ấy tinh tế hơn rất nhiều khi cố tìm hiểu tác động của cảm xúc. So với nhận thức thì cảm xúc ít bị dẫn dắt bởi dự định.

Vốn phi lý, cảm xúc hàm chứa các cơ chế phòng vệ khi nó tác động tới suy tư. Ba cơ chế phòng vệ đáng quan tâm là chối bỏ (denial), thăng hoa (sublimation), và kiềm nén (repression).

  • Chối bỏ có thể hiện diện do sự không chấp nhận các thực tế thuộc thế giới vật chất và tinh thần, hoặc nó đấu lại hết sức kịch liệt những ý tưởng đánh thức trong một lo âu nào đó. Như các cơ chế phòng vệ khác, chối bỏ phụ thuộc vào việc ‘kiềm nén” là cơ chế vốn được hiểu luôn ẩn giấu bên dưới tất cả các cơ chế phòng vệ.
  • Thăng hoa bộc lộ việc thay thế hoặc phân ly khỏi các cảm xúc hay xung năng tiêu cực thành các cảm xúc, ứng xử, hành động tích cực. Cơ chế phòng vệ này định dạng các viễn tượng nhờ thương lượng tạo tác động thỏa mãn cho cái tôi (ego), chẳng hạn, cho phép một người đánh giá bản thân mình là vị tha khi anh ta chối bỏ dự tính vô thức để chuyển đổi các cảm xúc tiêu cực thành hữu ích và đạo đức. Dù gì, cơ chế thăng hoa giúp duy trì nhiều khía cạnh tốt đẹp của xã hội. Các cá nhân giương cao các giá trị đáng gìn giữ bởi hầu hết người ta đặc thù dùng cơ chế thăng hoa; cơ chế cho phép cái tôi càng thêm lợi lạc do không ngừng thuyết phục chúng ta về đạo đức và luân lý nằm dưới các hành động tốt lành.
  • Hành vi kiềm nén khiến chúng ta đối đãi với môi trường bằng thứ quan điểm thoải mái và nuôi dưỡng bất chấp sự kiện rằng cái nhìn này không hề tương hợp với thực tế. Kiềm nén ấn trong trạng thái sẵn có và kém chín chắn trong phát triển thể lý lẫn tinh thần cho người ta dễ đạt tới sự yên ổn cả về thể chất và tâm lý khi đương đầu với một tình huống mà không cần bóp méo từ vô thức thông qua việc kiềm nén.

Cũng hiển nhiên với nhiều chứng cứ rằng ý nghĩa loạn thần được đan dệt bởi cảm xúc bị thúc đẩy do các cơ chế phòng vệ; điều này hàm chứa việc dùng nhiều cơ chế phòng vệ mang tính tâm lý rất bệnh học. Thông qua mô tả ba kiểu hoang tưởng  sau đây, khả thể phân biệt ngay động cơ mang chất cảm xúc của lối suy tư loạn thần:

  • Các hoang tưởng quấy đảo, hành hạ cho thấy loại kiểu cơ chế phòng vệ. Những hoang tưởng quấy đảo có thể phủ khắp thành nhu cầu tự thấy mình quan trọng, thậm chí, chúng cung cấp lý do hữu hiệu giả tạo cho nỗi khổ niềm đau của ta.
  • Các hoang tưởng mang tính tự cao tự đại thể hiện một ‘phức cảm siêu phàm’ cho phép việc tự tri nhận và lòng tự tôn thêm phần hay ho, khiến người ta cảm thấy mình quyền lực ghê gớm so với thực tế, bất kể sự kiện là các cảm xúc chỉ mang chất tích cực giả tạo.
  • Các hoang tưởng điên đảo vì tình, loạn dục không chỉ ban thưởng khoái lạc mà còn thỏa mãn sâu xa sự thân mật.

Các đền bù này chỉ ra tính cấp thiết về mặt cảm xúc của các cá nhân mắc loạn thần. Thuật ngữ ‘tính cấp thiết về mặt cảm xúc’ không hề có ý nhục mạ và lên án mà nó chỉ ra sự thích ứng. Trạng thái tha hóa và việc bị nô dịch của bệnh tâm thần là sự thật, và lý do mang yếu tố cảm xúc bên dưới các cơ chế phòng vệ là hiển nhiên. Các sự kiện này trỏ thẳng câu trả lời hay nhất với vấn đề bệnh tâm thần như tâm thần phân liệt; bộc lộ hoàn mãn các nhu cầu tâm lý- sinh học- xã hội của bệnh loạn thần.

Đặt trong các xem xét như thế, thuốc men là hiệu quả; khi khoa học càng tiến bộ, càng thêm phần giá trị hơn. Quan trọng là thoát khỏi trạng thái tha hóa (alienation), và nên tiếp cận dưới góc độ tâm lý trị liệu mang tính thấu cảm nhiều nhất có thể. Thứ đến, chúng ta cũng cần đương đầu với sự định kiến liên quan rối loạn tâm thần phân liệt.

Các câu trả lời khá đơn giản; tuy thế, nếu tính nhất thiết của cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt được hiểu một cách từ bị và chẳng mang hơi hướng đánh giá, thực tiễn tâm thần phân liệt có thể dần ít bị định kiến, nhục mạ. Khỏi dần thói chỉ trích, và căn cốt, được cải thiện hơn hẳn. Cần khẳng định, vấn đề không nằm ở cái nhãn ‘tâm thần phân liệt’ mà chính giả định gán nhãn vậy cho chỉ báo của sự định dạng cá nhân người ta. Rõ ràng, bệnh loạn thần tác động tới các cá nhân ấy nhiều hơn hoàn cảnh sống khác. Bất chấp, những thực tế của họ trong trạng thái ‘mông lung, hư ảo’ thì họ vẫn có thể được nhìn nhận với lòng từ bi, trừ khi kẻ ‘bình thường’ bất khả thể hiện phẩm chất nhân văn ấy.

Niềm tin của người nghĩ mình có khả năng kích hoạt và lo toan thay cho đời sống của kẻ khác

Một cách ngắn gọn, người tự tin vào khả năng kích hoạt là kẻ tin mình có khả năng cho tha nhân quyền lực, phương tiện, cơ hội và uy danh để làm điều gì đó; đặc biệt, người này tìm ra cách thức thao túng, dẫn dắt, điều khiển với việc duy trì hành vi hủy hoại bản thân (lạm dụng chất, chẳng hạn) nhằm quy buộc những sự hối lỗi, nuối tiếc, hoặc dễ tránh né hậu quả tiêu cực trong ứng xử của họ. Tỷ dụ, ai đó lè nhè say xỉn khi đến cơ quan gặp chef có thể kèm theo đồng nghiệp cùng đi để mình vẫn được giữ lại, chí ít tạm thời đã…

Người có khả năng kích hoạt này thường rất dễ thương. Họ có lẽ dễ động lòng xót xa trước một lầm lạc. Đôi khi, họ không hề nghĩ những gì mình đang làm mang tính kích hoạt mà như một người bạn thân thiết hoặc tiến hành vì điều tốt lành. Chỉ khi đối tượng được trợ giúp tiếp tục hành xử thiếu trách nhiệm và tránh né hậu quả thì mới phân biệt rõ ràng hơn giữa một người có thiện ý chân thành với một người thích kích hoạt.

Khá khó hiểu tại sao người biết mình đang kích hoạt kẻ khác cứ hay tiếp tục lặp lại hành vi xấu tệ. Một lý do để cố chấp kích hoạt liên quan với cả loạt niềm tin thấm đượm cảm xúc mà nó làm củng cố thêm hành vi này và tạo ra một sự ‘ngừng ngắt’ để nhìn nhận kích hoạt như biện pháp sai trái. Giống hầu hết niềm tin, không có cái nào phổ quát là sai hoặc đúng; đa phần niềm tin đóng vai trò hướng tới các cảm xúc hơn là logic khiến chúng càng khó nắm bắt.

Rõ ràng, sẽ là việc giải độc khi chỉ ra được hợp chất bổ sung cho các niềm tin để người kích hoạt thấu tỏ nguyên nhân của việc kích hoạt và do vậy, tạo nên nhiều lựa chọn tốt lành theo chiều tiến bộ, tích cực.

“Tôi là kẻ tệ hại nếu không ra tay giúp đỡ”

Cảm giác tội lỗi chắc chắn là một trong những cội rễ sâu xa của sự kích hoạt. Người ta dễ thấy tội lỗi về nỗi niềm đã không ‘trợ giúp’ (ngay cả khi đúng đắn) ai đó đang hành xử thiếu tinh thần trách nhiệm. Chắc hẳn kẻ hỏi xin ‘ân huệ’ thường gom tóm rồi lạm dụng với cảm nhận tội lỗi đó. Hầu hết chúng ta có khuynh hướng tự nhiên vui vẻ với việc giúp đỡ người khác. Khó khăn để có trực giác chống lại sự thôi thúc được cảm nhận sai trái này.

“Họ sẽ bị hãm hại khủng khiếp, thậm chí bị hành hạ đến chết mất thôi”

“Điều gì sẽ xảy ra nếu mình không giúp?” có thể là câu hỏi đáng sợ. Trong khoảnh khắc bày tỏ nhu cầu khẩn thiết ấy, sự đặt cược rất cao, thậm chí không chừng trở thành chuyện sống chết. Thường, kẻ đề nghị giúp đỡ sẽ vẽ bức tranh khủng khiếp khác xa so với thực tế. Những nỗi lo lắng và sợ hãi trong chính lòng ta có thể tạo nên kích hoạt như việc phải làm. Dĩ nhiên, nếu sự đe dọa đúng là chuyện sống chết thì người trợ giúp thể hiện đúng đắn vai trò, song nếu cơ chừng sự việc bị đẩy tung, hoắng lên vì một trong các các bạn bè cùng trang lứa thì vấn đề khác đi.

“Tôi đã đầu tư vào đấy quá nhiều rồi” (ngụy biện chi phí ngập lụt)

Khi thi thoảng giúp đỡ ai đó một đôi lần hoặc nhiều dịp nọ kia, chúng ta có thể thoáng nảy sinh ý nghĩa rằng việc giúp đỡ của mình không đem lại mấy tác dụng hữu ích. Và dẫu thế, chỉ có thói quen và sức ỳ lâu nay mới trở thành kẻ thù của chúng ta. Chúng ta có thể tin rằng “được, mình đã đến nước này rồi, giờ không dừng lại được nữa”, hoặc “tất cả mọi điều mình làm lâu nay sẽ trở thành công cốc mất thôi”.

“Tự họ không thể làm được điều đó”

Một sự thoát ra khỏi sự kích hoạt là nhận thấy việc mình đang làm một việc mà ai đó khác đúng ra nên làm nó. Song người bạn kém may mắn của chúng ta đích thị không chịu trách nhiệm được thì tính sao giờ? Một bài trắc nghiệm tốt để tách biệt sự giúp đỡ với sự kích hoạt là tự hỏi “Điều mình đang làm có giúp người ta trở nên có năng lực hơn hay làm bê trễ sự trưởng thành của họ thêm?”

Dần ý thức rõ ràng về các niềm tin tạo nên sự kích hoạt rốt ráo có thể là rất hữu ích. Nếu chúng ta sáng suốt đủ trông chừng các niềm tin rồi xem xét chúng một cách nghiêm túc, chúng ta có cơ hội giải phóng mình khỏi cái vòng tròn của hành vi vô trách nhiệm do đóng vai đi cứu giúp kẻ khác.

“Họ cần học hỏi từ chính lỗi lầm của bản thân”

Niềm tin căn bản chống lại sự kích hoạt tốt nhất là nhận ra rằng tất cả mọi sự trợ giúp phải đích thị hữu ích. Hầu hết mọi người học hỏi thông qua hậu quả. Nếu chúng ta thiếu trách nhiệm, thường nảy sinh hậu quả tiêu cực do quyết định kém. Nếu quên trả hóa đơn tiền điện, rất dễ tôi sẽ ngồi trong ngôi nhà tối om. Giành lấy cơ hội học hỏi từ hậu quả của kẻ khác, không những thiếu thông minh mà còn không thấy ra rằng điều họ làm sai rồi và việc thay đổi là cần thiết.

“Chỉ mỗi tôi loanh quanh lâu nay”

Khiêm cung là cơ chế phòng vệ đáng giá đối với sự kích hoạt. Nếu thành thật, đa phần chúng ta không có các nguồn lực to lớn để thừa ban phát nhỏ giọt cho những kẻ khác. Hầu hết họ đã sẵn lời tự biện hộ. Khi giải cứu ai đó thông qua sự kích hoạt, chúng ta thường khiến kẻ khác trả giá, thường hơn nhiều là chính chúng ta! Trước khi thế chấp để trợ giúp ai đó có thể xứng đáng hoặc không, hãy cân nhắc các cam kết khác mình đưa ra đặng tạo nên đối trọng vói xung năng tự nhiên muốn lao vào giúp đỡ ngay.

“Liệu họ có nhất thiết cần đến sự giúp đỡ của mình?”

Chỉ vì ao đó muốn xin ta giúp đỡ không có nghĩa mình phải thành kẻ giúp đỡ liền. Phụ thuộc vào kiểu khủng hoảng, có lẽ một bác sĩ, nhà trị liệu tâm lý, kế toán hoặc nhân viên ngân hàng sẽ thích hợp hơn hẳn. Lưu ý đừng để người khác phó thác trách nhiệm “bạn là hy vọng duy nhất của tớ”. Mình có thể dính đòn bởi vì nhiều người khác từng lợi dụng mình trước đây.