Rời khỏi phòng

Đó là một quyết định khó khăn mà đến giờ vẫn chưa triển khai cụ thể. Chiếc lá non xanh mới hé thấy háo hức quá nên đã vội ghé tai hỏi nhỏ: bao giờ thì chúng sẽ chuyển hướng sang bất kỳ điều chi, bởi vì tôi đang vui thú chốn này. Sự trú ngụ, vâng, căng trải đó đây có thể rốt ráo chẳng ước muốn bao giờ nói ‘không’.

Rõ là khi nhìn thấy sự vô thường trong mọi thứ: cách mọi điều mình gắn bó và phụ thuộc, những thay đổi, chia tay hoặc dần đến băng hoại, rã tan, chỉ thấy duy mỗi còn lại là những quấy nhiễu đậm cảm xúc; cảm xúc bất an, cô độc, sợ hãi, lo lắng, hoang mang, và bất hạnh. Cách duy nhất đặng tìm thấy hạnh phúc là học cách kiểm soát cảm xúc và làm bình lặng tâm trí, nhờ thay đổi cách mình suy nghĩ. Chúng ta buộc phải dần thôi dính bám vào các thứ và độc lập về mặt cảm xúc. Đấy là chuyện làm được thông qua hiểu biết rằng chúng ta tuyệt đâu sở hữu điều chi trên thế giới này, bao gồm cả những gì ta gọi là chính bản thân ta: cơ thể, tâm trí, và tinh thần.

Rời căn phòng ngôn ngữ song đừng sử dụng các từ như vũ khí làm đau và gây hại kẻ khác khủng khiếp. Bởi vì đích thị chúng ta dễ làm điều ấy lắm; chỉ bởi vì có thể nói điều gì không đồng nghĩa rằng nên thế. Có lẽ một trong những bài học lớn lao nhất trong đời là biết rằng khi nào thì nên im lặng. Vâng, mình không thể nói điều gì đẹp đẽ…

Giữa ngày xuân làm thinh, mình đang cố tìm thấy thật chủ động cách nào mang lại nụ cười và niềm vui với các câu chữ đầy quyền năng mãnh liệt; nó không đòi hỏi trả giá gì và e chừng, thoáng chốc là ai đó sẽ cảm thấy được quan tâm ấm áp. Song điều gì đó cần thời gian, tỷ như có tình bằng hữu, niềm tin và sự yêu thương được gạn lọc thật chậm rãi. Vào cuối ngày, chúng ta sẽ nuôi dưỡng theo cách thức thật lành mạnh. Một chút một để kiến tạo điều tốt sau cùng.

Rồi ắt sẽ có ngày ra đi… Điều quan trọng là chúng ta luôn để lại trong căn phòng nhỏ bé nhiều thứ ngoại hạng trong đời. Đấy là tình yêu, đam mê và lời nguyện cầu đích thực làm chúng ta cảm thấy đủ đầy. Hài lòng nơi căn phòng tạm thời một chiếc lá xanh non mới hé. Sự thật tới với mình, mình nhận ra nó bởi vì nó khiến mình hạnh phúc.

Thường thôi

Tâm hay đầu trò gây rắc rối, trước khi cuộc đời tạo tác đủ thứ tào lao và phiền não khiến ta lên bờ xuống ruộng. Nên chi, khởi sự lại thái độ đúng đắn cần có: thường- thôi. Từ bỏ rồi sau đó duy trì trạng thái bình thường.

Dấu hiệu tuyệt diệu và cao cả nhất của tự do là nó cho người khả năng thả xuống và từ bỏ; hàm nghĩa đi kèm trách nhiệm cùng sức chịu đựng khổ đau nếu theo đuổi những gì mình đã xác quyết, lựa chọn. Mí nữa, ấy cũng là dịp tung tẩy tạo tác nên bao mở rộng, thu hẹp, giả định và thử nghiệm đáng giá khi tháng năm dần trôi và qua nhanh.

Hình dung lộ trình đặng bước vào nơi chốn không sinh không diệt, mọi hiện tượng biến chuyển liên lỉ chẳngngừng nghỉ hoặc trạng thái không dính mắc đòi buộc mình học hỏi về rộng lượng; thiên hạ thay vì rên rỉ về quá khứ thì nên rỉ rên về sự càm ràm bất tận về dĩ vãng đã qua. Vì nếu không giành lấy thời gian và tiến hành điều cần làm ở- đây- và- ngay- bây- giờ thì e mãi mãi chẳng bao giờ thực hiện nổi hoặc ê chề lỡ hẹn, nuối tiếc ngập tràn.

Từ việc thải loại, tống khứ các đồ vật cá nhân vụn vặt, một hôm bừng tỉnh về sự từ bỏ sâu xa ‘tam độc’ khủng khiếp là tham lam (gắn dính), ghét bỏ (ác cảm), và sân si (ngu dốt). Đáng lưu ý, coi chừng mất các thứ gắn bó lâu nay thậm chí có thể khiến mình vụt trở thành ác cảm.

Dù no đói, lạnh rét, nắng mưa, thiếu đủ thì đừng bao giờ quên rằng ta ở đây để nhìn thấy mọi thứ rõ ràng và sáng tỏ. Muốn thế, phải tĩnh lặng và hài hòa.. Một cái tâm bình thường để thấu hiểu thực tế đời sống. Hết sức cảnh giác với khao khát trở thành và ham muốn những gì phi thường, thi thoảng bị thôi thúc bỏ chạy, vượt thoát, sa ngã hoặc mò mẫm; với nỗ lực trông chừng, cần gắng đưa tâm trở lại. Đừng cực đoan, thái quá. Khám phá tính vô thường, khổ, vô ngã; và không theo đuổi hoặc mong muốn những gì bộc lộ tính vô thường và đem lại nỗi khổ niềm đau.

Tập trung quan sát mọi thứ đến và đi. Thư thái, bình thản, tinh tấn, và sáng tạo.

Dấu nhắc dở dang

Bất đối xứng

Đôi khi, tất cả những gì ta có thể là viết. Gõ xuống cái laptop bạn cho mượn, và ngồi yên trong bộ quần áo của một người khác thoải mái thải ra.

Đọc vội những dòng chữ thời sự về Bob Kerrey qua cái nhìn của người thân nạn nhân cũng như lãnh đạo chương trình liên quan vụ thảm sát, dễ thấy ngay còn thiếu hẳn một sợi dây buộc ràng, xâu chuỗi và kết nối bền chặt. Chẳng phải quan điểm phía Hoa Kỳ, chẳng phải tâm tư bên cựu quân nhân Việt Nam Cộng sản, ngay cả với chút thầm thĩ sẻ chia kèm theo nhu cầu liên hệ bản thân sâu kín rất người của nhà văn Nguyên Ngọc vừa mới đẩy lên vài ba tiếng đồng hồ (trên Văn Việt) đâu.

Vốn lẽ nhăng nhít ở đời thì động cơ, cái tại sao của hành vi í, lắm lúc khó tìm biết rạch ròi. Con chữ lạc phận nghịch duyên này giờ đây hóa thành thứ khỉ gió nỏ ma quỷ hay thánh thần nào dung chứa toàn bộ. Là dấu chỉ hùng hồn còn lê la mãi đến hôm nay của một thời sợ vãi cả linh hồn, đái són ra ướt hết đến nỗi con dân Việt thượng vàng hạ cám, trọng khinh nghèo giàu chi thảy đều ám ảnh theo kiểu lờ tịt đi và cố gắng xua bỏ, gạt phắt kinh khiếp hơn cả đuổi tà. Hiện rõ lên bức màn sinh tử quyết liệt đằng sau ấy chính là quyền lực thống trị khủng khiếp tập thể vô hình của chế độ nghiễm nhiên tồn tại mấy chục năm rồi.

Dựa trên thuật ngữ dùng kèm mô hình 6 mức độ của nhà tâm lý trị liệu Marsha Linehan (cách tiếp cận DBT), một chiến lược đơn giản như đang giỡn để cải thiện các quan hệ liên nhân là hiểu biết về độ hiệu lực, chuẩn thuận (validation): cách làm sao để chấp nhận. Bởi chuẩn thuận là cách truyền thông chứng tỏ chấp nhận bản thân mình và (những) người khác; không có nghĩa nó là tán dương hoặc đồng ý. Một kiểu thể hiện trợ giúp và củng cố quan hệ trong khi vẫn duy trì quan điểm khác biệt. Thái độ đúng đắn vậy thì chơi với nhau mới bền lâu, thiết thực xác quyết rằng quan hệ là quan trọng.

Chuẩn thuận là thấy ra và chấp nhận các cảm quan, tình cảm, suy tư và hành vi của tha nhân là có thể thấu hiểu được. Tự chuẩn thuận là thấy ra và chấp nhận các suy tư, cảm xúc, cảm quan và hành vi của chính bản thân mình là có thể thấu hiểu được,

Còn có thể viết, còn có thể ngồi xuống, còn có thể nhìn thấy nhau, còn có thể phát ngôn nghĩa là còn có cơ hội. Nghĩa là rốt ráo may quá, còn sống sót, còn phát triển, thay đổi và chuyển hóa trên hành trình phụ thuộc lẫn nhau. Dù dấu nhắc dở dang và đớn đau đến mấy; từ khía cạnh cá nhân đơn lẻ hay dọc dài lịch sử một dân tộc…

Chối bỏ như một cơ chế phòng vệ

Với người nhiễu tâm (neurotics), chối bỏ (denial) là cơ chế phòng vệ vô thức bảo bọc họ chống lại trải nghiệm đớn đau không chịu đựng nổi. Với kẻ bị loạn tâm (disorderded), những gì chúng ta quen ghi nhận như các cơ chế phòng vệ vô thức (chối bỏ chẳng hạn) thường là các sách lược có tính toán nhằm khôn khéo tạo ấn tượng, diễn trò, và lảnh tránh trách nhiệm.

Dạng nhiễu tâm dùng nhiều thứ cơ chế nội tâm đặng chống giữ, che chắn trước trải nghiệm nỗi đau cảm xúc và làm khuây khỏa lo âu. Hầu hết mọi người nghe nói về các ‘cơ chế phòng vệ’ cơ bản này. Đấy là các công cụ *vô thức*, dù quyền năng song tỏ ra không thích đáng hoặc không luôn luôn cực kỳ lành mạnh tựa các cách thức giảm bớt nỗi đau cảm xúc. Các ‘triệu chứng” mà cá nhân kẻ loạn tâm khiến nhà trị liệu chú ý là kết quả lo âu sót lại hoặc nỗi đau cảm xúc vẫn còn đó sau việc dùng chẳng mấy hiệu quả một hoặc nhiều các ‘cơ chế phòng vệ’ đặc thù. Vào những dịp khác, một người dễ nhờ cậy trợ giúp bởi vì ‘các phòng vệ’ dần tăng thêm sự thiếu thích ứng hoặc bắt đầu bẻ gãy, để mặc nỗi đau cảm xúc ẩn bên dưới chúng nổi lên bề mặt.

Các tính cách loạn tâm dấn thân vào một số hành vi quá ‘tự động’ đến độ gợi ý nghĩ thực hiện chúng hoàn toàn vô thức. Thoạt nhìn, các hành vi này giống với các cơ chế phòng vệ và dễ diễn giải thành như thế, nhất là bởi các cá nhân bị ngâm quá mức trong các hệ hình truyền thống. Tuy vậy, xem xét kỹ càng hơn, các hành vi này chính xác ra phải được gọi tên là những sách lược diễn trò, mánh lới gây ấn tượng và chống kháng trách nhiệm.

Lấy ví dụ về một người phụ nữ kết hôn và sống cùng chồng 40 năm nay, và bà vừa đưa ông vào bệnh viện vì trong khi họ làm việc ngoài vườn thì ông ấy chợt nói năng khó khăn rồi trông có vẻ kiệt quệ. Các bác sĩ chẩn đoán chồng bà bị đột quỵ, giờ não đã chết và sẽ không hồi phục được. Dẫu thế, mỗi ngày bà vẫn vào bên cạnh giường ông, nắm tay và trò chuyện. Các điều dưỡng bảo ông không thể nghe thấy song bà vẫn nói với ông hàng ngày. Các bác sĩ bảo ông không hồi phục được song bà thì tự nhủ với bản thân rằng ‘tôi biết ông ấy sẽ qua khỏi, ông ấy là một người đàn ông mạnh mẽ’. Người phụ nữ này đang ở trong một trạng thái tâm lý lạ lùng: trạng thái chối bỏ. Bà rất khó khăn để tin những gì diễn ra. Mới đây thôi, bà còn ở ngoài vườn cùng ông, thích thú bên nhau làm công việc ưa thích. Trước hôm xảy đến sự cố một ngày, họ cùng nhau đến thăm gia đình một người bạn. Ông ấy cơ chừng toát lên nét vẻ thật hạnh phúc và khỏe mạnh. Ông ấy không đau ốm gì lắm khi bà đưa vào bệnh viện. Thế mà, trong chớp mắt thôi, họ đang nói rằng ông sắp chết. Nỗi đớn đau thấm đẫm cảm xúc này bà chưa từng phải chịu đựng. Bà không sẵn sàng chấp nhận việc người đàn ông đầu ấp tay gối suốt 40 năm qua sẽ không về cùng nhà với bà nữa. Bà không chuẩn bị tinh thần cho việc sống cuộc đời vắng bóng hình ông. Vì vậy, tâm trí vô thức cung cấp một phòng vệ hiệu quả (hầu như tạm thời) để bà chống lại nỗi đớn đau. Rồi dần mai một, khi bà đủ khả năng chấp nhận thực tế phiền não, sự chối bỏ của bà bị bẻ gãy, lúc ấy, nỗi đau bấy lâu tích chứa phun trào và bà sẽ xót buốt cõi lòng ghê gớm.

Một ví dụ khác về cái gọi là ‘chối bỏ’. Nam (tên giả), quen bắt nạt trên lớp, đi dạo với một trong các bạn học không nghi ngờ gì rồi tiến hành giật tung cặp sách bạn đang cầm, đá tung tóe sách vở khắp nơi dưới sàn nhà. Đúng lúc đó, giám thị hành lang bắt gặp nên nghiêm nghị hét lên “Nam!”. Cậu bé mở rộng vòng tay, làm cử chỉ ngạc nhiên và biểu tỏ vẻ mặt ngây thơ vô tội “Cô gọi gì em ạ?”. Liệu Nam đang sống một tâm trạng khác? Trạng thái thay thế này có thể giúp cậu chịu đựng nỗi đau cảm xúc? Nam không thực sự hiểu chuyện gì vừa diễn ra hay cậu ta nghĩ rằng mình nào có làm điều gì đâu cơ chứ? Cậu ta quá héo hon vì tội lỗi và/ hoặc tủi hổ vì điều mình gây ra đến độ cậu đơn giản không thể tin nổi mình thực sự đã làm chuyện khủng khiếp? Khả năng câu trả lời là Không. Nam chắc chắn quan tâm nhiều tới chuyện cậu ta có thể bị trừng phạt, kèm với lời thông báo tới bố mẹ, và thậm chí có thể bị đình chỉ học tập. Nên cậu chuẩn bị thử một chiến lược dài hơi. Cậu sẽ làm hết sức để vị nữ giám thị tin rằng không thực sự thấy những gì đôi mắt mình đã ghi nhận. Sảnh đường đông nghẹt. Có thể là ai đó khác chăng. Có thể hành động ấy chỉ là ‘tình cờ’. Nếu cậu ta thể hiện vừa đủ vẻ ngạc nhiên, ngây thơ, và sự phẫn nộ chính đáng thì biết đâu chừng, đúng là biết đâu đấy, cô giáo sẽ bắt đầu tự nghi ngờ bản thân. Cậu bé hy vọng, không giống mình, cô giáo có thể là dạng nhiễu tâm (chẳng hạn, mang lương tâm thái quá và cảm giác cực đoan về tội lỗi hoặc tủi hổ) để nghĩ rằng cô giáo có thể đánh giá nhầm tình huống, có thể cô giáo thậm chí tự mắng mỏ bản thân vì vội vàng quy kết hoặc dễ góp phần gây nên một nỗi đau cảm xúc. Sách lược này từng được việc rồi, có thể nó sẽ lại tiếp tục được việc lần nữa.

Ví dụ vừa nêu dựa vào một trường hợp có thật. Đáng lưu ý, khi ‘Nam’ nhận ra cậu ta không thể diễn trò với giám thị hành lang, cậu bất đắc dĩ ngừng việc chối bỏ và nói rằng, ‘Vâng, có thể em làm thế thật song cô giáo giám thị đã tin chắc vậy vì cô ấy luôn nói xấu về em’. Nam đang dùng một số chiêu thức khác để diễn tiếp trò sắp đặt, dẫn dắt và tạo mánh khóe gây ấn tượng; điều quan trọng nhất cần nhận ra là không giống với những gì xảy ra trong trường hợp chối bỏ tâm lý đích thực như một cơ chế phòng vệ, vụ của Nam không cho thấy nỗi thống khổ được biểu lộ và thể hiện buồn thương khi sự chối bỏ kết thúc. Lý do đơn giản là tự bản thân Nam chưa bao giờ ‘chối bỏ’ (trạng thái tâm lý). Cậu ta chỉ đang nói dối thôi, và dần cậu ta ngừng việc nói dối vì chuyện đó chẳng dẫn cậu ta đến đâu cả. Cậu ta chuyển từ việc nói dối sang xin lỗi và hành hạ nạn nhân cũng là các chiêu trò dẫn dắt và mánh khóe gây ấn tượng hiệu quả.

Không thể nhấn mạnh đủ rằng ‘chối bỏ’ của người phụ nữ lớn tuổi bất hạnh thì không giống với sự ‘chối bỏ’ của cậu bé bắt nạt bạn học tên Nam. Một là cơ chế phòng vệ, một thuộc chiêu trò dẫn dắt và lảng tránh trách nhiệm; một là cơ chế vô thức bảo bọc người ta khỏi nỗi đau khổ cảm xúc sâu thẳm, một là lời nói dối được tính toán và cân nhắc rõ ràng.

Tuy thế, thực tế nhiều vị dùng cùng thuật ngữ để mô tả các hành vi rất khác hẳn nhau này. Ít nhiều cảm thấy khó chịu khi ngay cả người hành nghề chăm sóc sức khỏe còn xem là chỉ có mỗi một dạng chối bỏ và họ thường giả định rằng hễ cứ nhắc tới chối bỏ thì bó nó vào mớ cơ chế phòng vệ phức tạp. Nghe họ nói về thân chủ cứ ngoan cố ‘phòng vệ’ thuộc hành vi có vấn đề này khác khi thực chất, họ đang mô tả thân chủ còn tiếp tục ‘nói dối và trình diễn’ như phần của trò chơi bày đặt gây ấn tượng và lảng tránh trách nhiệm. Lần nữa, ‘chối bỏ’ e là một trong các thuật ngữ sức khỏe tâm thần dễ bị dùng sai.

Vụt thấy khoảng tối thoáng qua của tâm lý học

Một người quen đến khám bệnh, bác sĩ cho cậu ta dùng một loại thuốc được dặn trước là có thể khiến hệ thống miễn dịch suy giảm rồi dần nhiễm virus lây lan. Không có chuyện đùa tếu gì ở đây cả. Bác sĩ giải thích rằng thuốc ấy là thứ đầu tiên làm bệnh nhân dễ tổn thương và cơ thể anh ta sẽ có nhiều khả năng chống kháng các vi khuẩn trong tương lai khi hồi  phục căn bệnh. Một cơ chế phòng vệ tự động được kích hoạt nhằm chống lại sự lây nhiễm vi khuẩn.

Giống như đang đến điểm tập thể hình và luyện tập thật chăm chỉ. Mình sẽ cảm thấy khô họng, mỏi mệt rã rời vài ngày tới rồi các cơ bắp theo thời gian săn chắc hơn lên, tự điều chỉnh từ từ và sẽ càng có thêm khả năng nâng nhiều vật lớn nặng.

Đây chính xác tựa cách các bác sĩ tâm thần có khả năng chữa lành những rối rắm cũng như đưa ngược trở lại các chức năng thân- tâm an lạc.

Trong cuốn sách về tâm lý của sự thuyết phục, tác giả thảo luận về làm sao chúng ta có thể tạo đòn bẩy bằng các kỹ thuật tâm lý giúp khách hàng mua sản phẩm mình đang chào bán. Không chỉ dùng trong thương mại, các kỹ thuật ấy còn được sử dụng nhằm thuyết phục và gây ảnh hưởng cho bất kỳ sự đấu thầu hay mệnh lệnh nào chúng ta mong muốn.

Bộc lộ những sai lầm, khiếm khuyết

Một cách để giành được sự tin tưởng của tha nhân là thay vì thể hiện sức mạnh thì nên bộc lộ những sai lầm, khuyết thiếu. Khi mình có khả năng chấp nhận những lầm lạc và sai sót, người sẽ lập tức thoải mái với sự hiện diện của ta vì họ cảm thấy siêu việt hơn. Hầu hết mọi người ghen tỵ với những ai thành công hơn họ, đặc biệt với bạn bè thân thiết.

Nếu mình là nhân viên bán hàng, trước tiên nên luôn lộ ra các khiếm khuyết của sản phẩm nhằm giảm thấp sự phòng vệ của khách mua. Hầu hết nhân viên quá chăm chắm bán các ưu điểm của sản phẩm đến độ làm cho khách cảnh giác rằng nhân viên đang cố đi đến việc kết thúc cho nhanh chóng.

Luôn dành lời nói tốt đẹp về người khác

Đừng bao giờ nói xấu sau lưng. Ai đó đồn thổi với ta về những sai sót của kẻ khác thì chẳng mấy chốc, chính mình lại có thể trở thành đối tượng bị đồn thổi. Điều ấy sẽ thúc mình phòng vệ với kẻ này.

Mình nên luôn dành lời nói tốt đẹp về ai đó vắng mặt. Điều này khiến người ta cảm thấy dễ chịu khi có mặt mình và sẽ tin mình vì họ biết mình dễ thương với phát ngôn tích cực. Nếu khó chịu với ai đó, mình phải đối chất ngay để khỏi giấu che sự bực bội.

Có qua có lại

Nếu cần một sự quý mến từ tha nhân, đầu tiên mình nên đề cao giá trị của họ. Tỷ dụ, đang trên tiến trình giới thiệu và rao bán sản phẩm thì mình uống nước. Ngay lập tức mình đưa một chai nước đóng sẵn khác với lời mời lịch sự, điều này sẽ nảy sinh nhu cầu qua lại khi khách cảm thấy mang ơn. Vì thế, lúc đề nghị thỏa thuận giá cả, họ sẽ cảm thấy nhu cầu đáp lại điều được nhận; làm tăng thêm xác suất họ lựa chọn mua hàng.

Vậy nếu cần sự ghi nhận quý mến, hãy thử cung cấp cho người ta trước tiên một giá trị nội tại mềm mại nhằm đào sâu nhu cầu có qua có lại về sau…

Sự kiểm chứng của xã hội

Khi số đông đang thể hiện một hoạt động đặc thù, nó tạo điều kiện cho chúng ta bước vào việc quyết định với một kịch bản soạn sẵn. Giả dụ mình đang làm việc tại một hội chợ khuyến mãi tưng bừng náo nhiệt và nhịp điệu diễn ra rất nhanh thì mình có thể chứng thực được cách thức làm sao tận dụng sự kiểm chứng về mặt xã hội để hưởng đặc ân. Công ty mình lo cài đặt các thiết bị âm thanh cho dân cư trong vùng, rồi không ngừng mở rộng và tăng cao thêm sự kiện là ngày càng có nhiều người đứng xếp hàng khi rất đông đang mua sản phẩm đặc biệt này.

Điều ấy thôi thúc khán giả đang nghe mình bước vào kịch bản tự động của việc quyết định mua ngay.

Trạng thái hiếm hoi

Dẫu có đông khách hàng, mình phải bảo họ rằng số lượng sản phẩm không dồi dào nhằm kích hoạt phản ứng lựa chọn mua hàng trong tâm trí họ. Biết sản phẩm sẽ loáng cái hết sạch, khách hàng sẽ không chần chừ ra quyết định đặt hàng. Với người đang lưỡng lự  hoặc phân vân xem thêm sản phẩm của đối tác cạnh tranh, sử dụng kỹ thuật này có thể khiến họ thay đổi dự tính.

Chẳng hạn, có thể bảo với khách hàng rằng công ty chỉ còn lô hàng cuối trong kho sẽ khiến khách hàng muốn vồ lấy.

Nối kết các điểm trên và mình sẽ cải tiến, hoàn thiện hơn mối quan hệ với bạn bè, người yêu cũng như thăng tiến nghề nghiệp của bản thân. Thực tế, không ai sẽ thiết tha gắn bó và yêu mến mình lắm nếu mối quan hệ quá dễ dàng đạt được. Cách tiếp cận lý tưởng là tạo cho tha nhân nhu cầu làm việc vì sự chu đáo, ân cần của mình. Như cách săn việc trong một công ty danh giá với vòng trong vòng ngoài đầy người để được lựa chọn. Thậm chí, nếu mức chi trả có ít ỏi và kém cỏi, sự bất hòa về mặt nhận thức sẽ xuất hiện và khiến chúng ta hợp lý hóa cách thức suy nghĩ rằng đây là cơ hội tuyệt vời, bởi vì mình phải tốn nhiều công sức và thi thố nên mới được vào.

Đòi hỏi cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt

Tâm trí luôn biểu tỏ dự tính, quá dễ thấy với các hoạt động lý tính như sự giải quyết các vấn đề liên quan đến toán học chẳng hạn; song điều ấy tinh tế hơn rất nhiều khi cố tìm hiểu tác động của cảm xúc. So với nhận thức thì cảm xúc ít bị dẫn dắt bởi dự định.

Vốn phi lý, cảm xúc hàm chứa các cơ chế phòng vệ khi nó tác động tới suy tư. Ba cơ chế phòng vệ đáng quan tâm là chối bỏ (denial), thăng hoa (sublimation), và kiềm nén (repression).

  • Chối bỏ có thể hiện diện do sự không chấp nhận các thực tế thuộc thế giới vật chất và tinh thần, hoặc nó đấu lại hết sức kịch liệt những ý tưởng đánh thức trong một lo âu nào đó. Như các cơ chế phòng vệ khác, chối bỏ phụ thuộc vào việc ‘kiềm nén” là cơ chế vốn được hiểu luôn ẩn giấu bên dưới tất cả các cơ chế phòng vệ.
  • Thăng hoa bộc lộ việc thay thế hoặc phân ly khỏi các cảm xúc hay xung năng tiêu cực thành các cảm xúc, ứng xử, hành động tích cực. Cơ chế phòng vệ này định dạng các viễn tượng nhờ thương lượng tạo tác động thỏa mãn cho cái tôi (ego), chẳng hạn, cho phép một người đánh giá bản thân mình là vị tha khi anh ta chối bỏ dự tính vô thức để chuyển đổi các cảm xúc tiêu cực thành hữu ích và đạo đức. Dù gì, cơ chế thăng hoa giúp duy trì nhiều khía cạnh tốt đẹp của xã hội. Các cá nhân giương cao các giá trị đáng gìn giữ bởi hầu hết người ta đặc thù dùng cơ chế thăng hoa; cơ chế cho phép cái tôi càng thêm lợi lạc do không ngừng thuyết phục chúng ta về đạo đức và luân lý nằm dưới các hành động tốt lành.
  • Hành vi kiềm nén khiến chúng ta đối đãi với môi trường bằng thứ quan điểm thoải mái và nuôi dưỡng bất chấp sự kiện rằng cái nhìn này không hề tương hợp với thực tế. Kiềm nén ấn trong trạng thái sẵn có và kém chín chắn trong phát triển thể lý lẫn tinh thần cho người ta dễ đạt tới sự yên ổn cả về thể chất và tâm lý khi đương đầu với một tình huống mà không cần bóp méo từ vô thức thông qua việc kiềm nén.

Cũng hiển nhiên với nhiều chứng cứ rằng ý nghĩa loạn thần được đan dệt bởi cảm xúc bị thúc đẩy do các cơ chế phòng vệ; điều này hàm chứa việc dùng nhiều cơ chế phòng vệ mang tính tâm lý rất bệnh học. Thông qua mô tả ba kiểu hoang tưởng  sau đây, khả thể phân biệt ngay động cơ mang chất cảm xúc của lối suy tư loạn thần:

  • Các hoang tưởng quấy đảo, hành hạ cho thấy loại kiểu cơ chế phòng vệ. Những hoang tưởng quấy đảo có thể phủ khắp thành nhu cầu tự thấy mình quan trọng, thậm chí, chúng cung cấp lý do hữu hiệu giả tạo cho nỗi khổ niềm đau của ta.
  • Các hoang tưởng mang tính tự cao tự đại thể hiện một ‘phức cảm siêu phàm’ cho phép việc tự tri nhận và lòng tự tôn thêm phần hay ho, khiến người ta cảm thấy mình quyền lực ghê gớm so với thực tế, bất kể sự kiện là các cảm xúc chỉ mang chất tích cực giả tạo.
  • Các hoang tưởng điên đảo vì tình, loạn dục không chỉ ban thưởng khoái lạc mà còn thỏa mãn sâu xa sự thân mật.

Các đền bù này chỉ ra tính cấp thiết về mặt cảm xúc của các cá nhân mắc loạn thần. Thuật ngữ ‘tính cấp thiết về mặt cảm xúc’ không hề có ý nhục mạ và lên án mà nó chỉ ra sự thích ứng. Trạng thái tha hóa và việc bị nô dịch của bệnh tâm thần là sự thật, và lý do mang yếu tố cảm xúc bên dưới các cơ chế phòng vệ là hiển nhiên. Các sự kiện này trỏ thẳng câu trả lời hay nhất với vấn đề bệnh tâm thần như tâm thần phân liệt; bộc lộ hoàn mãn các nhu cầu tâm lý- sinh học- xã hội của bệnh loạn thần.

Đặt trong các xem xét như thế, thuốc men là hiệu quả; khi khoa học càng tiến bộ, càng thêm phần giá trị hơn. Quan trọng là thoát khỏi trạng thái tha hóa (alienation), và nên tiếp cận dưới góc độ tâm lý trị liệu mang tính thấu cảm nhiều nhất có thể. Thứ đến, chúng ta cũng cần đương đầu với sự định kiến liên quan rối loạn tâm thần phân liệt.

Các câu trả lời khá đơn giản; tuy thế, nếu tính nhất thiết của cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt được hiểu một cách từ bị và chẳng mang hơi hướng đánh giá, thực tiễn tâm thần phân liệt có thể dần ít bị định kiến, nhục mạ. Khỏi dần thói chỉ trích, và căn cốt, được cải thiện hơn hẳn. Cần khẳng định, vấn đề không nằm ở cái nhãn ‘tâm thần phân liệt’ mà chính giả định gán nhãn vậy cho chỉ báo của sự định dạng cá nhân người ta. Rõ ràng, bệnh loạn thần tác động tới các cá nhân ấy nhiều hơn hoàn cảnh sống khác. Bất chấp, những thực tế của họ trong trạng thái ‘mông lung, hư ảo’ thì họ vẫn có thể được nhìn nhận với lòng từ bi, trừ khi kẻ ‘bình thường’ bất khả thể hiện phẩm chất nhân văn ấy.

Niềm tin của người nghĩ mình có khả năng kích hoạt và lo toan thay cho đời sống của kẻ khác

Một cách ngắn gọn, người tự tin vào khả năng kích hoạt là kẻ tin mình có khả năng cho tha nhân quyền lực, phương tiện, cơ hội và uy danh để làm điều gì đó; đặc biệt, người này tìm ra cách thức thao túng, dẫn dắt, điều khiển với việc duy trì hành vi hủy hoại bản thân (lạm dụng chất, chẳng hạn) nhằm quy buộc những sự hối lỗi, nuối tiếc, hoặc dễ tránh né hậu quả tiêu cực trong ứng xử của họ. Tỷ dụ, ai đó lè nhè say xỉn khi đến cơ quan gặp chef có thể kèm theo đồng nghiệp cùng đi để mình vẫn được giữ lại, chí ít tạm thời đã…

Người có khả năng kích hoạt này thường rất dễ thương. Họ có lẽ dễ động lòng xót xa trước một lầm lạc. Đôi khi, họ không hề nghĩ những gì mình đang làm mang tính kích hoạt mà như một người bạn thân thiết hoặc tiến hành vì điều tốt lành. Chỉ khi đối tượng được trợ giúp tiếp tục hành xử thiếu trách nhiệm và tránh né hậu quả thì mới phân biệt rõ ràng hơn giữa một người có thiện ý chân thành với một người thích kích hoạt.

Khá khó hiểu tại sao người biết mình đang kích hoạt kẻ khác cứ hay tiếp tục lặp lại hành vi xấu tệ. Một lý do để cố chấp kích hoạt liên quan với cả loạt niềm tin thấm đượm cảm xúc mà nó làm củng cố thêm hành vi này và tạo ra một sự ‘ngừng ngắt’ để nhìn nhận kích hoạt như biện pháp sai trái. Giống hầu hết niềm tin, không có cái nào phổ quát là sai hoặc đúng; đa phần niềm tin đóng vai trò hướng tới các cảm xúc hơn là logic khiến chúng càng khó nắm bắt.

Rõ ràng, sẽ là việc giải độc khi chỉ ra được hợp chất bổ sung cho các niềm tin để người kích hoạt thấu tỏ nguyên nhân của việc kích hoạt và do vậy, tạo nên nhiều lựa chọn tốt lành theo chiều tiến bộ, tích cực.

“Tôi là kẻ tệ hại nếu không ra tay giúp đỡ”

Cảm giác tội lỗi chắc chắn là một trong những cội rễ sâu xa của sự kích hoạt. Người ta dễ thấy tội lỗi về nỗi niềm đã không ‘trợ giúp’ (ngay cả khi đúng đắn) ai đó đang hành xử thiếu tinh thần trách nhiệm. Chắc hẳn kẻ hỏi xin ‘ân huệ’ thường gom tóm rồi lạm dụng với cảm nhận tội lỗi đó. Hầu hết chúng ta có khuynh hướng tự nhiên vui vẻ với việc giúp đỡ người khác. Khó khăn để có trực giác chống lại sự thôi thúc được cảm nhận sai trái này.

“Họ sẽ bị hãm hại khủng khiếp, thậm chí bị hành hạ đến chết mất thôi”

“Điều gì sẽ xảy ra nếu mình không giúp?” có thể là câu hỏi đáng sợ. Trong khoảnh khắc bày tỏ nhu cầu khẩn thiết ấy, sự đặt cược rất cao, thậm chí không chừng trở thành chuyện sống chết. Thường, kẻ đề nghị giúp đỡ sẽ vẽ bức tranh khủng khiếp khác xa so với thực tế. Những nỗi lo lắng và sợ hãi trong chính lòng ta có thể tạo nên kích hoạt như việc phải làm. Dĩ nhiên, nếu sự đe dọa đúng là chuyện sống chết thì người trợ giúp thể hiện đúng đắn vai trò, song nếu cơ chừng sự việc bị đẩy tung, hoắng lên vì một trong các các bạn bè cùng trang lứa thì vấn đề khác đi.

“Tôi đã đầu tư vào đấy quá nhiều rồi” (ngụy biện chi phí ngập lụt)

Khi thi thoảng giúp đỡ ai đó một đôi lần hoặc nhiều dịp nọ kia, chúng ta có thể thoáng nảy sinh ý nghĩa rằng việc giúp đỡ của mình không đem lại mấy tác dụng hữu ích. Và dẫu thế, chỉ có thói quen và sức ỳ lâu nay mới trở thành kẻ thù của chúng ta. Chúng ta có thể tin rằng “được, mình đã đến nước này rồi, giờ không dừng lại được nữa”, hoặc “tất cả mọi điều mình làm lâu nay sẽ trở thành công cốc mất thôi”.

“Tự họ không thể làm được điều đó”

Một sự thoát ra khỏi sự kích hoạt là nhận thấy việc mình đang làm một việc mà ai đó khác đúng ra nên làm nó. Song người bạn kém may mắn của chúng ta đích thị không chịu trách nhiệm được thì tính sao giờ? Một bài trắc nghiệm tốt để tách biệt sự giúp đỡ với sự kích hoạt là tự hỏi “Điều mình đang làm có giúp người ta trở nên có năng lực hơn hay làm bê trễ sự trưởng thành của họ thêm?”

Dần ý thức rõ ràng về các niềm tin tạo nên sự kích hoạt rốt ráo có thể là rất hữu ích. Nếu chúng ta sáng suốt đủ trông chừng các niềm tin rồi xem xét chúng một cách nghiêm túc, chúng ta có cơ hội giải phóng mình khỏi cái vòng tròn của hành vi vô trách nhiệm do đóng vai đi cứu giúp kẻ khác.

“Họ cần học hỏi từ chính lỗi lầm của bản thân”

Niềm tin căn bản chống lại sự kích hoạt tốt nhất là nhận ra rằng tất cả mọi sự trợ giúp phải đích thị hữu ích. Hầu hết mọi người học hỏi thông qua hậu quả. Nếu chúng ta thiếu trách nhiệm, thường nảy sinh hậu quả tiêu cực do quyết định kém. Nếu quên trả hóa đơn tiền điện, rất dễ tôi sẽ ngồi trong ngôi nhà tối om. Giành lấy cơ hội học hỏi từ hậu quả của kẻ khác, không những thiếu thông minh mà còn không thấy ra rằng điều họ làm sai rồi và việc thay đổi là cần thiết.

“Chỉ mỗi tôi loanh quanh lâu nay”

Khiêm cung là cơ chế phòng vệ đáng giá đối với sự kích hoạt. Nếu thành thật, đa phần chúng ta không có các nguồn lực to lớn để thừa ban phát nhỏ giọt cho những kẻ khác. Hầu hết họ đã sẵn lời tự biện hộ. Khi giải cứu ai đó thông qua sự kích hoạt, chúng ta thường khiến kẻ khác trả giá, thường hơn nhiều là chính chúng ta! Trước khi thế chấp để trợ giúp ai đó có thể xứng đáng hoặc không, hãy cân nhắc các cam kết khác mình đưa ra đặng tạo nên đối trọng vói xung năng tự nhiên muốn lao vào giúp đỡ ngay.

“Liệu họ có nhất thiết cần đến sự giúp đỡ của mình?”

Chỉ vì ao đó muốn xin ta giúp đỡ không có nghĩa mình phải thành kẻ giúp đỡ liền. Phụ thuộc vào kiểu khủng hoảng, có lẽ một bác sĩ, nhà trị liệu tâm lý, kế toán hoặc nhân viên ngân hàng sẽ thích hợp hơn hẳn. Lưu ý đừng để người khác phó thác trách nhiệm “bạn là hy vọng duy nhất của tớ”. Mình có thể dính đòn bởi vì nhiều người khác từng lợi dụng mình trước đây.

Nghiện ngập và lạm dụng: “Làm gì khi bố thường xuyên đánh mẹ?”

Khi giải quyết chuyện bố, mẹ nghiện rượu thì điều chính yếu của việc đón nhận nguồn lực trợ giúp là biết mình mong đợi chi và cần ứng xử ra sao:

Giờ tụi em đã lớn và tự lập hết nhưng bố thậm chí còn quá quắt hơn. Không có nguyên nhân gì đáng để bố đánh đập mẹ cả, toàn những chuyện nhỏ nhặt hoặc là khơi lại chuyện ngày xưa nghịch ngợm của các con. Bố ngày càng nhậu nhiều hơn, tần suất đánh đập mẹ cũng nhiều hơn, còn luôn giữ con dao nhỏ trong người. Em đã khuyên mẹ ly hôn nhưng mẹ nói tụi em còn chưa ổn định nên mẹ không muốn. Tụi em đều ở xa và không biết chuyện gì sẽ xảy ra với mẹ. Xin hãy cho em lời khuyên trong tình cảnh này. Em có thể thay mẹ viết đơn khiếu nại được không? Gửi đến những cơ quan nào?(Yến)

 ………

Cái bất hạnh của mẹ bạn là không biết cách ứng xử với người say rượu. Người say rượu rất thích mọi người kính trọng họ và có lời nói nhẹ nhàng. Nếu không được đối xử như vậy, cái tức tối sẽ được cài vào não ở tần số tự động hóa, nên cứ uống đến độ nhất định thì hình ảnh xấu của người can thiệp lúc họ say trước đây sống lại và họ càng cáu càng tức khi gặp mặt. Mẹ của bạn đã để lại trong não bố bạn ở tần số say rượu những điều làm ông uất ức nên cứ say đến độ đấy là xuất hiện “đe dọa và làm hung dữ”. Bây giờ sửa lại khó lắm vì nó ăn sâu vào vỏ não mất rồi.

Có lẽ bạn chưa hiểu nguyên nhân từ xưa, lúc cha mẹ bạn còn trẻ và những ngày đầu ông uống rượu. Bạn hỏi mẹ bạn xem những ngày bố mẹ bạn mới cưới có chuyện gì không. Đây cũng là sự tế nhị nên bạn cần khéo léo. Nếu hiểu được lý do bố bạn uống rượu lúc đầu và cách ứng xử của mẹ bạn thì mới có thể “điều trị tâm lý” cho bố bạn được.

……..

Cho dẫu bất đồng với cách lý giải hời hợt trên, sự thật không may là các trường hợp tương tự xảy đến với các gia đình Việt Nam chẳng phải hiếm gặp, và thường nảy sinh một số cảm xúc đặc thù ở con cái.

Tôi tin, ngay cả khi không thấy kể gì về chuyện mấy người con có giáng đòn xuống ông bố nghiện rượu về thể lý hoặc cảm xúc, tổn thương họ phải gánh chịu từ bé thế đến giờ vẫn khó nguôi ngoai sớm chiều. Vấn đề là tình huống sẽ không được cải thiện (thậm chí càng làm tồi tệ hơn) cũng như hữu ích cho bất cứ ai, bởi việc gây đau đớn. Cô gái cùng anh, chị em mình cần tìm cách thức thật xây dựng để xử lý với các cơn tức giận và nỗi niềm bất mãn ở trong chính lòng họ. Ngoài việc học hỏi các cách thức đối phó mới, cũng khá tốt để đi đến nhận diện chính xác những gì đang diễn ra và hiểu rằng, nghiện ngập có thể chỉ là một loại bệnh đơn lập.

Như mấy người con này nhận ra ít nhiều, yêu thương và tha thứ cho ai đó không bảo vệ cho chúng ta khỏi việc định dạng người đó là ai, cách họ ứng xử, và bất kỳ hiểm nguy nào họ đặt để lên chúng ta. Các người con và bà mẹ có quyền tự bảo vệ bản thân khỏi sự lạm dụng về thể xác, lời nói và tinh thần, bất luận cách người bố lạm dụng liên quan ra sao.

Người ta tiến hành các chiến lược khác nhau với tình huống đang bàn. Một ví dụ là tách khỏi người cha và hành vi lạm dụng của ông, nhận thức rõ ràng là ông ta vẫn tiếp tục làm hại lòng tự trọng của con cái cũng như ông ấy có thể không ngừng đầu tư nhằm củng cố thêm vai trò, quyền lợi của bản thân hơn là lo lắng, quan tâm đến sức khỏe cảm xúc của vợ con.

Một chiến lược có thể là giữ ông bố ở khoảng cách an toàn, giống như giữ một con hổ bé, chúng ta yêu nó song vẫn đặt trong cũi cạnh nhà; quan tâm khả năng gây hại cho bản thân và người xung quanh. Khoảng cách an toàn được thực hiện khi cả mấy anh chị em cùng rủ nhau ghé nhà thăm bố hoặc nhân sự kiện gia đình, không có các cuộc tiếp xúc cá nhân: mọi sự tình cờ, kết thúc trao đổi rồi rời đi khi các lời mắng chửi của ông bố phủ lên, và tạo nên tâm thế xác định rằng cô gái chẳng còn ngâm tăm im lặng chịu đựng trước hành vi ấy nữa.

Một sự lựa chọn khác là nhận ra ông bố có thể mang tính cách lạm dụng; chuyện thuộc bản thân ông ấy, chứ không liên quan đến cô gái hay anh chị em… Các cá nhân như thế thường tỏ ra:

  1. không chịu chấp nhận trách nhiệm trước hành vi của bản thân,
  2. cảm quan khó tin nổi về việc cho mình có quyền và cần được tôn trọng dù đích thị không xứng đáng, và
  3. hầu như ích kỷ trong các quan hệ với mọi người xung quanh.

Nếu cô gái thừa tự tin, thử chọn cách tiếp cận này, kiểu giống các nhân viên làm việc ở nhà tù biết đồng nghiệp lạm dụng song họ lờ đi. Nếu độ trọng thị bản thân chưa cao lắm, đừng dùng nó vì bố cô gái sẽ dày vò con về mặt cảm xúc khi cô gái không duy trì sự tách biệt và nhận ra ông bố là kẻ lạm dụng dây dưa.

Khuyến cáo sử dụng bất kỳ cách tiếp cận nào tốt nhất với cô gái. Lưu ý rằng kẻ khác có phát biểu riêng họ. Nhiều người đưa ra lời khuyên tuyệt vời cho những tình huống không liên quan với họ, đó là cách họ nghĩ bản thân sẽ giải quyết được nó. Sự thật, cô gái nên làm những gì người bình thường khỏe mạnh cần làm là nhận ra bố mình lạm dụng, gây nguy hại về sức khỏe tinh thần cho mình, và cô gái cần phát triển một chiến lược xử lý tình huống. Nếu thế, cô gái đi đúng hướng.

.. Là kẻ nghiện ngập, ông bố có thể lo sợ người vợ bỏ rơi mình. Đàn ông bê tha lè nhè thế không nhiều bằng hữu thực sự. Dễ tưởng tượng người vợ làm mọi thứ: bếp núc, giặt giũ, dọn dẹp, nhà cửa v.v… Ông bố không tìm được ai gắn bó với mình thế và ước ao bà vợ hy sinh cuộc đời cho sự ích kỷ của ông ta.

Ông bố đang đe dọa tính mạng và hành hạ bà mẹ. Rời bỏ tình huống tương tự tạm gọi là ‘kế hoạch vượt thoát’. Làm bảng kiểm các nguồn lực: bà con, nơi nào tạm cho tá túc, ai hỗ trợ tài chính, v.v… thậm chí, xem xét cả các nguồn lực đang hiện diện ở cả nơi bà mẹ đang cư trú nữa: nhà mở, các tổ chức, đoàn hội trợ giúp. Cô gái cần giúp mẹ nhờ cơ quan pháp luật can thiệp…

Bất hạnh thay, tình huống như gia đình cô gái đang phải gánh chịu rất thông thường ở khía cạnh lạm dụng. Kẻ quấy rối đủ mọi dạng kiểu dùng nhiều vũ khí tâm lý cực kỳ hiệu quả để diễn kịch, bày vẽ chiêu trò, hăm dọa, và giữ người ta dưới sự kiểm soát, khống chế. Cũng đặc trưng việc nạn nhân hay đưa mình vào tình huống chối bỏ, giảm thiểu thấp nhất hậu quả, hợp lý hóa; thêm nữa, các nạn nhân thường bị tẩy não siêu tuyệt để tự họ nghĩ rằng mọi sự là do lỗi của họ, duyên phận không may mắn. Chưa nói, ở tầng mức vô thức sâu thẳm, họ biết rằng họ bị tổn thương khủng khiếp nhất  khi họ không tán đồng với những mệnh lệnh của kẻ trấn áp (một tỷ lệ nạn nhân tử vong xảy ra khi họ đi đến quyết định kết thúc quan hệ). Vì vậy, họ tự hoang tưởng cho rằng mọi chuyện đã an bài, sắp đặt sẵn rồi và họ an toàn hơn nhiều khi dấn sâu theo các mệnh lệnh, điều khiển của kẻ lạm dụng tài ba.

Các nạn nhân không khởi sự suy nghĩ thấu đáo và sáng suốt được trừ khi họ được dịp ít nhiều thoát ra khỏi tình huống lạm dụng. Thậm chí, nếu kẻ lạm dụng siêu giỏi về các chiêu trò như gây đau đớn thì nạn nhân dễ cảm thấy áy náy nếu tiến hành cắt đứt mối dây gắn bó. Song với việc trợ giúp kịp thời và đúng đắn, các nạn nhân có thể hồi phục một viễn tượng đời sống cân bằng và khởi sự làm lại…

Yếu tố quan yếu nhất trong trợ giụp nạn nhân thoát khỏi kẻ trấn áp là có một kế hoạch rất an toàn và mạng lưới hỗ trợ tốt. Không ở một mình và cần có các kế hoạch cụ thể phù hợp để giúp giải cứu một cách an toàn. Những kẻ lạm dụng không thích và để yên khi thấy uy lực và khả năng đe dọa của họ bị lung lay. Song khi cảm thấy họ  đối đầu với cả lực lượng hỗ trợ hùng hậu khác với một con người cô lẻ bị họ hành hạ bấy nhiêu năm trời khốn khổ, chuyện sẽ khác.

Cũng cần giúp cho các nạn nhân bị lạm dụng cảm nhận mức độ nhất định về năng lực kiểm soát. Họ không thể bị thúc đẩy hành động nếu e ngại. Nên rất giá trị khi họ nhận ra rằng có gia đình, bạn bè, và nhiều nguồn trợ giúp khác quan tâm, đứng bên và sẵn sàng ứng cứu khi bà sẵn sàng tiến hành các bước tái xác lập cuộc đời của chính mình.

Thực tế, tại Việt Nam, hiện có không ít các tổ chức, trung tâm chuyên sâu hoạt động can thiệp và trợ giúp nạn nhân trong các trường hợp bị bạo hành, lạm dụng.

Nỗi niềm âu lo khôn ngoan

Lo lắng, ngại sợ bị phiền nhiễu có thể được hiểu trong bối cảnh thật hết sức tự nhiên. Tất thảy thông qua làn da, chúng ta thấm thía từ thông điệp chuyển gửi của hệ thống thần kinh báo cho biết điều gì đó không ổn.

Nếu bất kỳ phần nào trong cơ thể chúng ta quá nóng, quá lạnh, bị va chạm mạnh hoặc châm chích ghê gớm thì chúng ta sẽ tri nhận như sự đau đớn. Cơn đau không thuần túy là thông tin trừu tượng; phụ thuộc vào độ căng thẳng, nó túm bắt sự chú ý của chúng ta. Không thích thú cơn đau, hầu hết thời gian chúng ta làm bất cứ điều gì khả thể đặng giải thoát khỏi cơn đau càng nhanh càng tốt và điều ấy hầu luôn luôn là câu trả lời đúng đắn, chí ít nhằm tránh bị gây hại.

Song có những trạng thái mà cơn đau không thể hiện chức năng như dự tính, nó kéo dài lâu hơn lúc vết thương đã lành, hoặc khi khó làm thuyên giảm, êm dịu đi được. Các trạng thái đau đớn trường diễn kiểu thế đòi hỏi một đáp ứng cách khác, vì giờ đây tín hiệu gây hại là lầm lạc rồi.

Quan ngại và âu lo có thể rất giống với con đau thể lý. Ở tầm mức nhất định, con người ta có thể cảm nhận không chỉ những gì đang xảy ra trong hiện tại mà còn có thể cảm nhận cả cơn đau tương lai, nhờ khả năng tưởng tượng, dự đoán và cân nhắc hậu quả…

Lo lắng giúp chúng ta bớt nhẹ nguy cơ tương lai, tựa cơn đau khiến mình tránh bị thương thêm nữa. Và, giống cơn đau thể lý, lo lắng cũng gây ác cảm. Chúng ta không thích điều kinh hãi của sự bất hạnh cơ chừng sắp đổ ụp xuống; chúng ta muốn rời xa không chỉ tương lai kinh hoàng mà cả khoảnh khắc hiện tại gây nỗi niềm u ám. Lo lắng còn bỏ lơ mục đích, và quấy rầy chúng ta về các sự kiện sắp đến là bất khả hoặc không thể thuyên giảm được, giống như cách cơn đau mãn tính khiến chúng ta nghĩ rằng chẳng lợi lạc gì.

… Đôi khi, mọi chuyện chỉ cần một từ, một ý nghĩ, hoặc một cảm giác là đủ bao vây tâm trí và nhúng chúng ta vào một trải nghiệm, như thể mình đang xem bộ phim kinh dị bằng công nghệ 3D sắc nét, sống động vậy. Thưc tế, nếu lượng giá các âu lo cùng các tiêu chuẩn như đánh giá phim ảnh, chúng ta sẽ dần nhận ra chúng là thứ phim khủng khiếp chẳng đáng xem. Nếu các nỗi lo âu của chúng ta là các bộ phim, mình sẽ rời khỏi chúng trước khi cảnh đầu tiên kết thúc, bởi vì chúng đầy vẻ mờ ám và lặp đi lặp lại kinh hoàng, vô vàn bất hạnh đâu đâu, các vai chính vớ vẩn, và kịch bản nhiều lỗ thủng.

Trong những cơn đau dữ dội của nỗi âu lo, cần dành nỗ lực đích thực để tách biệt huyễn tưởng với thực tế. Tin tốt là chẳng mấy chốc, mình nhận ra ngay rằng nỗi niềm âu lo là phim tồi tệ, và mình lựa chọn ‘bước ra’; thậm chí hay hơn, mình hiểu bản thân không chỉ là khán giả ngồi xem các thứ phẩm mà mình cũng là tác giả kịch bản và đạo diễn. Điện ảnh hiện đại, như ở phương Tây, tạo cho khán giả cảm nhận rằng các anh hùng trong phim có thể chịu đựng khốn khổ xong rồi sẽ được minh oan, giải thoát vào đoạn kết; kỳ lạ nhất, phim ảnh trong đầu chúng ta thường chạy theo hướng các câu chuyện cổ tích Grimm nguyên bản mà chỉ tồn tại tí xíu hoặc chẳng hề có chút tẹo hy vọng nào trong đó. Trầm cảm và lo âu làm mên một đội ngũ khủng khiếp, khi trầm cảm gắng bảo ta kém cỏi hoặc không có khả năng đối phó trong khi lo âu gieo ném mình vào toàn các hoàn cảnh tưởng tượng thảm khốc; chúng cướp đoạt hy vọng của ta về tương lai.

Tại sao mình không cập nhật các kịch bản tinh thần theo các tiêu chí hiện đại? Khi lo âu chỉ là một bộ phim do mình đang tạo tác, tại sao không để bản thân tự đóng vai người hùng đang gặp thời cơ thuận lợi. Thực tế, khi xu hướng mình thường xuyên hạ thấp năng lực bản thân, tại sao không làm cho mình cao hơn và mạnh mẽ hơn so với thực tế? Cứ để mặc sự vụ thế đi, thay vì khiến chúng lớn lao hơn thì chỉ cần để chúng như thực tế là… Biết mình có các tiếp điểm tốt và xấu trong đời, và cho phép chúng tô vẽ trí tưởng tượng. Cuối cùng, để bản thân có cái kết tốt đẹp, và khi mình tái chế lại các bộ phim tinh thần theo cách ấy, nhận ra rằng lo âu chuyển sang đúng vai trò của nó là hệ thống khuyến cáo và lập kế hoạch giúp mình thoát khỏi rắc rối trước khi nó bộc lộ ra.

Thay hình chuyển dạng, biến hóa nỗi niềm lo âu vớ vẩn thành kế hoạch hữu ích là cách hiệu quả giúp vượt qua lo lắng. Cách khác là sống nhiều hơn với thế giới ngoài kia chứ không phải bận tâm cái trong đầu, cho phép phần còn lại trong ngày giành lấy nhiều mối quan hệ khác, sau khi chỉ định một khoảng thời gian nào đó là ‘thời gian lo âu.

Lựa chọn việc tập trụng, chú ý vào hiện tại là nơi chốn mình có thể gây tác động tích cực, khiến lo âu giảm đi tác dụng trong thế giới nội tâm. Đừng nên để nỗi lo âu vật chất hóa, và nếu mình bận rộn trong lúc đợi chờ vì đoán biết trước xui rủi, bất hạnh sẽ ập đến thì mình cũng không buộc phải, nhất thiết cần trải qua đớn đau, khổ sở ở đời.

Vì sao em khóc?

Mặt đào phớt trắng hồng, lòng bềnh bồng xanh trong, giời ươn ướt lặng nồng, đất dâng tình mênh mông.

Vâng, bài này tuyệt không định đùa bỡn nhằm cốt minh họa câu chuyện rằng trông thấy một cô gái (có thể chàng trai) đang ứa lệ thổn thức nên Bụt động lòng hiện lên hỏi “vì sao con khóc?”

Một cách nghiêm túc, tôi nghĩ đặt câu hỏi mang tính tu từ thế là đã sai rồi. Bởi vì ai dám chắc chắn khóc đích thị sẽ làm ta cảm thấy tốt hơn?

Theo đó, khóc đa phần không đem lại nhiều lợi lạc tích cực cho lắm, chí ít không mấy tí với tâm trạng trong ngày. Không chỉ các giai đoạn khóc lóc thường tiền triệu trước 2 ngày mang tâm trạng xuống tinh thần rồi, chúng còn liên quan với tâm trạng xuống thấp vào ngày đổ lệ và tâm trạng xuống tinh thần  liên tục vào hai ngày sau đó. Vì tâm trạng thế sau những lúc đầm đìa nước mắt nên kết quả càng tăng cường thêm; thường tâm trạng chẳng mấy thay đổi (60,8%)…

Trước khi giới thiệu tiếp các nghiên cứu tìm hiểu về cái sự khóc, cần nói ngay rằng bản thân tôi phát ứa lệ bất thần thảng thốt khi chợt đọc thấy dòng chữ diễn giải gợi tò mò khẳng định khoa học thần kinh ủng hộ ý tưởng phân tâm học của Freud ra sao:

Phát hiện của Carhart-Harris cùng cộng sự về sự kích hoạt vùng Cg25 thuộc hồi liên hợp khứu- hải mã (cingulate gyrus) ở não bộ người mắc trầm cảm nặng nhất quán với ý tưởng trừng phạt kinh khủng cái siêu tôi (supeego) ở trạng thái tách biệt trong quan hệ liên nhân cách nhằm cố sức ngăn chặn sự đổ tràn các xung năng theo mô thức Panksep đầy hoảng sợ và thù hận khỏi được ý thức.

Nhân tiện, trong cuốn sách xuất bản năm 2014, nhà vật lý lý thuyết Michio Kaku chú tâm tìm hiểu cách thức khoa học khám phá ý thức, và ông cho rằng Freud không hoàn toàn sai. Không những ông tổ Phân tâm học đã đúng về hoạt động vô thức, Kaku còn nhấn mạnh rằng các nhà khoa học đang dùng các kỹ thuật quét não để định hình thành phần não bộ tương ứng với cái tôi (ego), cái ấy (id) và cái siêu tôi (superego):

Cái tôi cơ bản thuộc vỏ não thùy trán trước trước (prefrontal cortex). Đó là nơi mình trú ngụ. Bất luận khi bạn tự hỏi mình đang ở đâu đây. Wow, đấy đúng nơi bạn đang là. Và rồi các ao ước của bạn. Chúng ta nhìn thấy trung tâm khoái lạc hiện diện ngay trung tâm não bộ. Đó là libido. Chúng ta biết địa điểm của trung tâm khoái lạc. Còn ý thức thì nằm ngay đằng sau đôi mắt bạn đó. Vỏ trán hốc mắt (orbital frontal cortex) ngay sau đôi mắt là nơi ý thức thuộc về. Và vì thế, chúng ta thực sự nhìn điều đó chuyển động.

Không rõ đáng khóc òa hay cười xòa khi khoa học cũng đã kịp tìm ra các bằng chứng mang tính hệ thống về sự giả vờ nhỏ lệ của đứa bé con. Nhiều bố mẹ nhận thấy con mình giả vờ khóc để thu hút sự chú ý, song người ta nghi ngờ liệu mới tí tuổi đầu đã biết lừa dối rồi ư. Nghiên cứu của Nakayama cho thấy không nên ấn tượng xấu về chuyện khóc vờ ở trẻ bé tí, bởi cá nhân tương tác kiểu đó rất tốt cho sự phát triển về mặt xã hội cũng như cảm xúc; trẻ có khả năng khóc vờ dễ giao tiếp không ngừng với người nuôi dưỡng theo cách này hàng ngày; khóc vờ làm tăng thêm gắn bó trong quan hệ. Ngoài ra, nghiên cứu của Nakayama còn thấy hầu hết thời gian bé khóc là do tác động tiêu cực diễn tiến; ảnh hưởng tích cực chỉ quay lại tuần tự với việc tiếp xúc thể lý với người chăm sóc, hoặc kết nối với tiếp xúc thân thể và mắt.

Má ơi, giờ thì đến lượt tôi im bặt, tắt tiếng ca luôn bởi thông tin rằng nhà trị liệu già và nhiều trải nghiệm cũng hay dễ khóc hơn khi làm việc.

Khóc vì sầu muộn, khóc do sung sướng. Thế rốt cuộc khóc đang đem lại gì cho cá nhân ta đây? Giống với nghiên cứu đã tiến hành, người thường rối nhiễu tâm căn, hướng ngoại thái quá và/ hoặc thấu cảm hay khóc nhiều hơn và dễ dàng hơn; đáng ngạc nhiên, những ai mắc trầm cảm, lo âu… lại ít liên quan tần suất hoặc sự dễ dàng để khóc. Trạng thái sức khỏe tâm thần chứ không phải các nét tính cách mới liên quan với cách thức người ta cảm nhận việc khóc; trong khi chủ yếu người tham gia (88,8%) thổ lộ khóc khiến họ khuây khỏa, bớt căng thẳng thì số ít, nhất là người mắc trầm cảm, lo âu, mất khoái cảm (anhedonia), và mù cảm xúc (alexithymia) cho biết họ cảm thấy tồi tệ hoặc cũng rứa thôi khi nhỏ lệ.

Rõ ràng, cần nhiều nghiên cứu để lý giải không phải khóc luôn làm tất thảy thiên hạ cảm thấy được an ủi, khuây khỏa. E chừng, về mặt cảm xúc, khóc thường phản ánh ‘ánh đèn thân nhiệt’. Khi sống dưới quá nhiều áp lực cảm xúc, xã hội, và cá nhân do công việc, gia đình, tiền bạc, quan hệ, v.v… chúng ta bị căng thẳng về mặt cảm xúc và thấy nóng liên miên. Tựa như ô tô, không cần nhiều để khởi sự việc khóc. Những mê hoặc khóc lóc với tần suất lớn và không kiểm soát nổi là các khuyến cáo và chỉ báo stress cao độ. Giống như đèn tín hiệu ô tô, mức độ khóc nói rằng mình đang bị cảm xúc chi phối do áp lực stress khủng khiếp. Và tựa ô tô, chúng ta cần làm mát…

Vậy xử lý sao khi khóc mãi không kiềm chế nổi?

Trước hết, cần biết rằng nhạy cảm là quà tặng. Giới tâm lý học thường nhìn mọi thứ dựa theo một thang đo và nếu thế, mình ở tót cao của ngưỡng quen thuộc; tuy thế, khả năng cảm xúc bị kiểm soát quá mức hoặc kiểm soát kém. Khi thêm vào các triệu chứng lo âu và buồn bã thì chúng ta rơi khỏi ranh giới thông thường của sự nhạy cảm.

Đây là cách hay để nghĩ về tình huống trên. Nếu mình thường vốn thế và hành vi hiện tại tương tự xảy đến nhiều năm rồi thì đấy nên được xem là thuộc tính cách. Nếu các cảm xúc mình mới xuất hiện hoặc khó kiểm soát gần đây thôi thì mình dễ đang trải nghiệm stress hoặc trầm cảm ghê gớm trong đời. Ý tưởng ‘không kiểm soát’ hàm ý như thể mình không kiểm soát được đáp ứng về mặt cảm xúc. Chúng ta thường thấy điều này khi trầm cảm, trạng thái sẽ đi kèm với các vấn đề mất ngủ, ăn uống không ngon miệng, mất năng lượng/ động cơ, thu mình ngại giao tiếp, và tâm trí mãi dính bám với quá khứ. Trầm cảm khiến nảy sinh suy tư, hình dung và huyễn tưởng u uẩn…

Thế đang cười rồi chuyển sang khóc òa thì như nào?

Nhiều người chối bỏ hoặc tránh né các cảm xúc không kiểm soát được– vô thức hoặc ý thức. Người ta dùng đủ kiểu chiến lược khác nhau để lờ đi các cảm xúc gây đau đớn, từ việc bị quấy nhiễu do công việc, lạm dụng chất, cho tới việc khước từ thẳng thừng luôn. Điều quan trọng nên nhớ là khi mình bị chèn ứ cảm xúc, chúng không thoát ra được; chúng có thể lặn xuống đáy sâu cả thời gian dài rồi đột ngột trồi lên bề mặt.

Dốc ngược cảm xúc có thể biểu hiện dưới dạng thức của cơn sợ bị tấn công, hoặc chúng có thể thuộc về chuyện quá bất ngờ, nhất là khi mình đang sung sướng, ngất ngây. Có thể khi mình cho phép một cảm xúc trồi lên bề mặt, ngay cả đấy là cảm xúc hạnh phúc tích cực và cười đùa vui vẻ thì đồng thời mình cũng mở toang cho các cơn lũ cảm xúc ùa ra ào ào.

Cách tốt nhất để xử lý tình tình huống này là có cái nhìn thành thật với những gì có thể đang ứ tràn. Có trải nghiệm đau đớn nào trước đây mình chưa xử lý? Có thể đây là dịp tiếp cận với nguồn gây cảm xúc đau đớn, nhất là khi mình đã dốc ngược vào trong lòng các cảm xúc một thời gian dài. Sẽ hữu ích để khởi sự làm bảng kiểm hàng ngày tự theo dõi về các trải nghiệm cảm xúc; tiến hành xem xem bản thân bao nhiêu lần mỗi ngày nhận ra các cảm xúc hiển thị. Hãy thành thật. Thử gọi tên, gán nhãn với cảm xúc đang hiện diện. Nhớ rằng chúng ta mỗi lần thường có nhiều hơn một cảm xúc. Đấy là cách bắt đầu khơi lên cái tôi cảm xúc và nâng cao khả năng tự ý thức.

… Nguồn cơn của việc khóc khi nói lời chào tạm biệt là ‘ký ức cảm xúc’. Não bộ lưu giữ các chi tiết trải nghiệm và cảm xúc kinh qua cùng lúc. Khi một ký ức cảm xúc được tạo ra, bất kỳ sự kiện tương tự nào cũng có thể là cớ đào bới, khai quật và khiến hồi tưởng ký ức và các cảm xúc từ xa xưa. Bằng thái độ hoặc thói quen hành xử kỳ cục, não bộ phản ứng đầy cảm xúc với những gì chúng ta tưởng tượng cũng như những gì mình suy tư quyết định điều mình cảm nhận.

Có thể lý giải việc đôi khi trong quá khứ mình từng trải nghiệm một cuộc chia ly phiền muộn: lạc mất bạn tốt, bố mẹ đi xa/ ly dị, người thân qua đời… Não mình tạo nên một ký ức cảm xúc về sự kiện. Theo thời gian, với mỗi lần tạm biệt, não không chỉ lôi kéo ký ức cảm xúc đó về mà nó còn khởi sự thêm vào nỗi niềm lo lắng và những cảm xúc khó chịu. Mình sẽ thấy rằng mình bắt đầu nhấn mạnh về lời chia tay nhiều ngày trước khi sự kiện diễn ra. Với mỗi lần tạm biệt, ký ức cảm xúc trở nên rộng lớn và mãnh liệt hơn. Sự dấn vào căng thẳng này làm tăng thêm cường độ cảm xúc đạt đến điểm gây bùng phát khi lời chia tay đã đến, tạo ra cơn khóc lóc khó dừng lại…

Mẫu hình này thực sự rất thông thường. Nó giải thích tại sao cô dâu, chú rể yếu mềm, thiếu dũng cảm ở lễ cưới. Tiếp nạp bởi cảm xúc quá mạnh mẽ đủ khiến họ ngập tràn thái quá xuyên suốt thời gian sự kiện diễn ra. Vấn đề không nằm ở lời nói chia tay, tạm biệt mà nó đã khởi động sẵn rồi độ căng thẳng từ trước vốn kéo dài khá lâu. Mình trở nên quá kiệt sức về mặt cảm xúc đến độ khóc là cách đích thị giúp mình phóng thích và làm thuyên giảm cường độ mãnh liệt của cảm xúc.

Vậy đấy. Khi mình bắt đầu nhân biết các cảm xúc, bước tiếp theo là phá hiện những gì mình thấy cần thiết để tự chăm sóc bản thân. Cảm xúc là thông tin. Khi lắng nghe chúng, mình cho chính mình cơ hội để chăm sóc mình tốt hơn rồi tìm ra được cách thức để cảm nhận tốt hơn nữa.