Thường thôi

Tâm hay đầu trò gây rắc rối, trước khi cuộc đời tạo tác đủ thứ tào lao và phiền não khiến ta lên bờ xuống ruộng. Nên chi, khởi sự lại thái độ đúng đắn cần có: thường- thôi. Từ bỏ rồi sau đó duy trì trạng thái bình thường.

Dấu hiệu tuyệt diệu và cao cả nhất của tự do là nó cho người khả năng thả xuống và từ bỏ; hàm nghĩa đi kèm trách nhiệm cùng sức chịu đựng khổ đau nếu theo đuổi những gì mình đã xác quyết, lựa chọn. Mí nữa, ấy cũng là dịp tung tẩy tạo tác nên bao mở rộng, thu hẹp, giả định và thử nghiệm đáng giá khi tháng năm dần trôi và qua nhanh.

Hình dung lộ trình đặng bước vào nơi chốn không sinh không diệt, mọi hiện tượng biến chuyển liên lỉ chẳngngừng nghỉ hoặc trạng thái không dính mắc đòi buộc mình học hỏi về rộng lượng; thiên hạ thay vì rên rỉ về quá khứ thì nên rỉ rên về sự càm ràm bất tận về dĩ vãng đã qua. Vì nếu không giành lấy thời gian và tiến hành điều cần làm ở- đây- và- ngay- bây- giờ thì e mãi mãi chẳng bao giờ thực hiện nổi hoặc ê chề lỡ hẹn, nuối tiếc ngập tràn.

Từ việc thải loại, tống khứ các đồ vật cá nhân vụn vặt, một hôm bừng tỉnh về sự từ bỏ sâu xa ‘tam độc’ khủng khiếp là tham lam (gắn dính), ghét bỏ (ác cảm), và sân si (ngu dốt). Đáng lưu ý, coi chừng mất các thứ gắn bó lâu nay thậm chí có thể khiến mình vụt trở thành ác cảm.

Dù no đói, lạnh rét, nắng mưa, thiếu đủ thì đừng bao giờ quên rằng ta ở đây để nhìn thấy mọi thứ rõ ràng và sáng tỏ. Muốn thế, phải tĩnh lặng và hài hòa.. Một cái tâm bình thường để thấu hiểu thực tế đời sống. Hết sức cảnh giác với khao khát trở thành và ham muốn những gì phi thường, thi thoảng bị thôi thúc bỏ chạy, vượt thoát, sa ngã hoặc mò mẫm; với nỗ lực trông chừng, cần gắng đưa tâm trở lại. Đừng cực đoan, thái quá. Khám phá tính vô thường, khổ, vô ngã; và không theo đuổi hoặc mong muốn những gì bộc lộ tính vô thường và đem lại nỗi khổ niềm đau.

Tập trung quan sát mọi thứ đến và đi. Thư thái, bình thản, tinh tấn, và sáng tạo.

Dấu nhắc dở dang

Bất đối xứng

Đôi khi, tất cả những gì ta có thể là viết. Gõ xuống cái laptop bạn cho mượn, và ngồi yên trong bộ quần áo của một người khác thoải mái thải ra.

Đọc vội những dòng chữ thời sự về Bob Kerrey qua cái nhìn của người thân nạn nhân cũng như lãnh đạo chương trình liên quan vụ thảm sát, dễ thấy ngay còn thiếu hẳn một sợi dây buộc ràng, xâu chuỗi và kết nối bền chặt. Chẳng phải quan điểm phía Hoa Kỳ, chẳng phải tâm tư bên cựu quân nhân Việt Nam Cộng sản, ngay cả với chút thầm thĩ sẻ chia kèm theo nhu cầu liên hệ bản thân sâu kín rất người của nhà văn Nguyên Ngọc vừa mới đẩy lên vài ba tiếng đồng hồ (trên Văn Việt) đâu.

Vốn lẽ nhăng nhít ở đời thì động cơ, cái tại sao của hành vi í, lắm lúc khó tìm biết rạch ròi. Con chữ lạc phận nghịch duyên này giờ đây hóa thành thứ khỉ gió nỏ ma quỷ hay thánh thần nào dung chứa toàn bộ. Là dấu chỉ hùng hồn còn lê la mãi đến hôm nay của một thời sợ vãi cả linh hồn, đái són ra ướt hết đến nỗi con dân Việt thượng vàng hạ cám, trọng khinh nghèo giàu chi thảy đều ám ảnh theo kiểu lờ tịt đi và cố gắng xua bỏ, gạt phắt kinh khiếp hơn cả đuổi tà. Hiện rõ lên bức màn sinh tử quyết liệt đằng sau ấy chính là quyền lực thống trị khủng khiếp tập thể vô hình của chế độ nghiễm nhiên tồn tại mấy chục năm rồi.

Dựa trên thuật ngữ dùng kèm mô hình 6 mức độ của nhà tâm lý trị liệu Marsha Linehan (cách tiếp cận DBT), một chiến lược đơn giản như đang giỡn để cải thiện các quan hệ liên nhân là hiểu biết về độ hiệu lực, chuẩn thuận (validation): cách làm sao để chấp nhận. Bởi chuẩn thuận là cách truyền thông chứng tỏ chấp nhận bản thân mình và (những) người khác; không có nghĩa nó là tán dương hoặc đồng ý. Một kiểu thể hiện trợ giúp và củng cố quan hệ trong khi vẫn duy trì quan điểm khác biệt. Thái độ đúng đắn vậy thì chơi với nhau mới bền lâu, thiết thực xác quyết rằng quan hệ là quan trọng.

Chuẩn thuận là thấy ra và chấp nhận các cảm quan, tình cảm, suy tư và hành vi của tha nhân là có thể thấu hiểu được. Tự chuẩn thuận là thấy ra và chấp nhận các suy tư, cảm xúc, cảm quan và hành vi của chính bản thân mình là có thể thấu hiểu được,

Còn có thể viết, còn có thể ngồi xuống, còn có thể nhìn thấy nhau, còn có thể phát ngôn nghĩa là còn có cơ hội. Nghĩa là rốt ráo may quá, còn sống sót, còn phát triển, thay đổi và chuyển hóa trên hành trình phụ thuộc lẫn nhau. Dù dấu nhắc dở dang và đớn đau đến mấy; từ khía cạnh cá nhân đơn lẻ hay dọc dài lịch sử một dân tộc…

Hanoi, Hanoi (1)

Mọi thứ đang thay đổi, bất kể mọi thứ có thể như nào…

Dòng bên trên ấy lửng lơ mãi vậy đã gần ba tuần nay.

Thói quen hay thế vì Hanoi cưu mang và ôm ấp được những ai mơ hồ ngơ ngác; nó cho phép sự tội nghiệp và những nét vẻ hoang đàng trong đời sống nội tâm có cơ nở nhụy.

Không gian rộng nhất của Hanoi là cái làng lớn, bao quanh bởi các làng bé; lý giải vì sao cả gái xinh lẫn giai tài đều cứ tủn mà tủn mủn, nói tinh tế cũng đúng mà nói giang hồ vặt cũng cấm sai. Thời gian theo đó, dẫu không đi đâu quá xa mà cứ vấn vương ‘thương nhớ mười hai’.

Trái tim tôi, từng bao lần đập thình thịch khi đi tàu, đón xe, ngồi máy bay, từ núi xuôi xuống, dưới biển lên, miền Trung ra hay đơn giản mới rời xa mấy ngày phía bên kia ngoại thành Kinh Bắc.

Không- thời gian ấy giờ đây mất hẳn đi cái tâm tưởng luyến lưu da diết. Chẳng phải hết yêu đâu mà tình thương, cùng bao tháng năm dằng dặc, đột ngột chuyển hóa thành cái gì dịu dàng gắn bó, thôi nhớ nhung đau đáu nữa.

[Tạm thời rứa đã hỉ…]

Viết chào mời thời mới

Blog resolutions for 2016, by Russell Jackson at Draw the Public.

Năm 2016 đã trôi qua hơn 10 ngày đầu tiên rồi.

Viết chào mời Thời Mời. Cái thời mới í đã tồn tại sẵn đó, từ lâu. Như gần cội cây bàng đỏ lá và gió thổi lăn lốc đám khô vàng đầy màu sắc quá vãng chiều nay, một bà cụ móm mém, da nhăn nheo song vẫn vắt chân thong thả châm điếu thuốc lá từ cú bật lửa điệu nghệ của cậu trai kia. Như tin đưa vụ ghép đầu người sắp diễn ra lần đầu tiên vào 2017 rất dễ trở thành hiện thực, không còn là chuyện khoa học giả tưởng; vì từ 1954, người Nga đã tạo ra chó hai đầu gây sốc, và sau đó Hoa Kỳ ghép được đầu khỉ dù nó chỉ sống được vài ngày (bằng chứng về mặt kỹ thuật là có thể: 1, 2, 3 song không thoát khỏi vấn đề đạo đức y sinh liên quan sát sườn tới bản dạng và nhân cách người).

Thoải mái, thư thái mà vẫn chú tâm, tỉnh giác và ý thức với thái độ của kẻ hiểu biết, người quan sát, chỉ làm chứng cho chuyện các cảm xúc, suy tư, ký ức và tri giác đến rồi đi; chỉ nhìn ngó hơi thở, trải nghiệm về cơ thể lúc ngồi, và có thể cả âm thanh của lặng im (nền tảng của thanh âm giao thông đi lại); thái độ có mặt ở đây và ngay bây giờ này trong hiện tại là những gì gọi là ‘vun bồi, chăm nom’ luôn nhắc nhở chính bản thân mình rằng chỉ có hiện tại mà thôi.

Vì việc nhận ra cái tôi không phải là cái tôi, ý thức tinh tuyền không phải là cái tôi, không phải là con người mình; điều kiện của một bản ngã thì khởi lên rồi biến mất theo thời gian cùng nơi chốn.

Ta không phải là điều mình nghĩ. Cái gọi ‘nhân cách’ là các thói quen suy tư và sự gắn bó của tôi với ký ức, trí nhớ và chỉ là cách tôi phát triển trên bình diện cá nhân, riêng tư. Chúng giống như thói quen tựu thành, nên tựa bất kỳ thói quen nào chúng là những gì chúng là, cơ mà chúng chẳng khác hơn gì nữa… Như thế, nối kết sự ‘thư thái’ với ‘chú ý’ là khuyến khích sự chú ý rộng mở với khoảnh khắc hiện tại đang là… thời mới.

Giữa lưng chừng đôi tai và đầu gối…

Biết dừng tạm nơi đâu để những ý nghĩ chẳng dám còn nghiêng ngả...
Biết dừng tạm nơi đâu để những ý nghĩ chẳng dám còn nghiêng ngả…

Nhớ lần đầu tiên nghe giai điệu The Day Before You Came (ABBA, 1981). Hơn 20 năm rồi. Quán café ngã tư nơi ấy không thể nhớ dáng người ngồi song nét chạm hoang hoải thì cứ mãi nhắc tạc vô duyên vào dòng sông ký ức lúc chiếc lá ngô đồng rơi trái mùa thương nhớ.

Khi một cô bé nghịch ngợm đề nghị tôi hát thay vì đọc lên vài đoạn đang xem nửa chừng từ cuốn sách viết về thiền định, thật kỳ cục là tôi nghĩ mình hoàn toàn quên bẵng giai điệu da diết suốt quãng đời xa xưa ấy. Tại sao âm nhạc thôi xao chúng ta? Cơn cớ nào chiều bàng hoàng hẳn hoi vào giây phút máy cối to đùng bùm bụp đập dữ dội: “… It’s funny, but I had no sense of living without aim. The day before you came. And turning out the light  I must have yawned and cuddled up for yet another night. And rattling on the roof I must have heard the sound of rain. The day before you came….”

E chừng âm nhạc có thể phản ánh nét tính cách con người. Làm thế nào mà kiểu chọn nhạc lại vén lộ các suy tư và cảm xúc nội tâm ta? Đơn giản như đang giỡn vậy, âm nhạc thỏa mãn các chức năng tâm lý thiết yếu với kẻ lắng nghe: 1) cải thiện năng lực thể hiện trong nhiệm vụ gì đấy (chống buồn chán và đưa sự chú ý cao nhất khi lái xe, học hành hoặc làm việc); 2) kích thích sự tò mò trí năng (nhờ tập trung rồi phân tích âm nhạc đang nghe); và ghê gớm nhất là 3) điều khiển hoặc gây tác động các trạng thái cảm xúc riêng có của người ta với mục tiêu chạm tới một tâm trạng mong muốn tỷ như sung sướng, phấn khích, và bi lụy.

Dĩ nhiên, âm nhạc không thể khít khớp nọ kia cùng tất cả. Vấn đề của nó là giậm giật quá mức, giảm thính lực, hồi tưởng quá khứ, ngập tràn cảm xúc, và nảy sinh lo âu mơ hồ. Thói quen chọn nhạc đa phần bị chi phối bởi bản dạng xã hội của cá nhân mỗi người. Và nhạc buồn bã khiến khán giả nghe sầu muộn vì nó mang tính kết nối, truyền tải thông điệp, giá trị thẩm mỹ cao, và đào sâu ký ức.

… Vào cái thời mà một cái máy Walkman nằm gọn bàn tay là thứ đồ đắt đỏ và sang trọng thì cái băng cassette phải hứng chịu số phận bị tua đi tua lại đêm ngày cấm ngừng nghỉ thôi, nhất là sau khi chủ nó từng trải qua thời gian dài miệt mài cắm quán với ly đen đá ngậm ngùi để không chút ngại ngần đề nghị mở hoài The Day Before You Came…

Trong vẻ mê muội và dại khờ của âm thanh rồi về sau hình ảnh bắt mắt nhờ có mạng lưới điểm toàn cầu, nhận ra sự khôn ngoan thế nào đây khi mà ta chưa phân biệt nổi điều chi quý giá trội lên hẳn, của vẻ đẹp thiện lành và sự thật tuyệt đối.

Giơ tay rồi ngồi nhìn vào mắt nhau: trông thấy điều lo lắng không cân xứng

Vì người cười không khóc, lòng buông cùng cỏ cây...
Vì người cười không khóc, lòng buông cùng cỏ cây…

Thật cảm động khi có cơ hội ngồi đối diện nhìn vào mắt nhau; chắc càng tuyệt, nếu giơ thêm bàn tay vệ sinh sạch sẽ trước vấn nạn biến đổi khí hậu toàn cầu. Nghiên cứu cho thấy, chỉ cần 4 phút tiếp xúc mắt liên tục sẽ làm tăng thêm sự thân mật, thậm chí, có thể xảy ra chuyện khiến kẻ lạ phải lòng nữa. Vâng, thường thì tuổi trẻ vốn có xu hướng lãng mạn và không ngại ngần tiến hành cách mạng đủ mọi loại thứ trên đời.

Bọn ta *nên* lo lắng điều gì? (Lo lắng vì chẳng phải ai khác, chính chúng mình góp phần tạo dựng tương lai).

E chừng ấy là nỗi sợ hãi không cân xứng: sự thiếu nhất quán giữa trạng thái khách quan của khoa học với sự khinh rẻ của đám đông to mồm đó đây. Nguồn cơn khởi phát dễ tìm thấy khi cân nhắc điểm khác biệt căn bản giữa hai ‘thế giới’.

Một là thế giới của các ý tưởng mang nội dung khách quan, đặc thù khoa học như khối kiến thức gồm các lý thuyết khả thể và đích thực, sự đúng đắn hoặc có thể sai của chúng, tính có thể bác bỏ, các trắc nghiệm chấp nhận hoặc thất bại, các khẳng định tin cậy hoặc chẳng thuyết phục, các mục tiêu thỏa mãn hoặc không trả lời nổi, sự triển khai bằng chứng cốt lõi, thành tựu tiến bộ đạt được. Khoa học theo Darwin chẳng hạn, giữ vị thế cao trong thế giới này với kiến thức khách quan tựa như ‘ý tưởng duy nhất hay ho chưa từng ai sở hữu’, và chắc hẳn độc sáng trong lịch sử khoa học; tưởng chừng không thể bị thay thế, sinh học sẽ là mãi mãi theo kiểu Darwinian, vì sự chọn lọc tự nhiên có vẻ là cơ chế duy nhất thực hiện thiết kế mà không có nhà thiết kế. Và hiểu biết Darwinian về bản chất con người là sự ứng dụng trực diện với tuệ giác căn bản đó. Nỗ lực nghiêm cẩn đầu tiên khoa học vì bản thân chúng ta…

Thế giới khác là thế giới chủ quan của các trạng thái tinh thần, của con người và xã hội: suy nghĩ, niềm tin, tri giác, cảm xúc, tình cảm, hy vọng, hoài bão.

Lưu ý sự phân biệt này, chúng ta có thể ghi nhận hết sức chính xác sự mất cân đối, không tương xứng và tại sao nó lại gây lo lắng đến thế.

Nói chung, sự tiếp nhận của công luận về một lý thuyết khoa học tán thành do và đa phần nhất trí bởi việc đánh giá thế giới khách quan của các ý tưởng. Tuy nhiên, nó không giống trường hợp hiểu biết khoa học về bản chất tiến hóa của nhân loại và vượt trên tất cả, các bản chất giữa giống đực và giống cái, đàn ông và đàn bà. Nếu các tranh cãi về khoa học tiến hóa của bản chất người được thực hiện trong thế giới của các ý tưởng mang nội dung khách quan, sẽ không có cạnh tranh; lý thuyết tiến hóa sẽ thắng thật dễ dàng. Song, như một sự kiện xã hội học, giữa thị trường công khai thì khả năng nó sẽ thất bại thảm hại trước những chỉ trích om sòm.

Bằng cách nào ư? Vì trong một sự đảo chiều hoàn toàn của quan hệ khách quan giữa khoa học với những chỉ trích như thế, tất cả mọi sự bất tương xứng, không cân đối đều lật ngược. Thứ nhất, sức nặng của ‘chứng cứ’, sức nặng của lập luận được chuyển di từ những chỉ trích vào thành khoa học, nó là chủ nghĩa Darwinism vốn chờ xét xử. Các thái độ chống Darwin không buộc phải tự phòng thủ, họ được chấp nhận khỏi bị phê phán, các tiêu chí đánh giá về các quan điểm này gồm tất thảy sự sẵn sàng tín nhiệm và ngờ vực tuyệt không chút tin tưởng. Thứ đến, thêm sự sỉ nhục gây tổn thương, một trạng thái quá thừa thãi các đồ thay thế tạo tác tại gia dùng làm trò ảo thuật đặng lấp đầy khoảng cách với cái khoa học nên là. Dạng khoa học bản- thân- tự- làm- lấy này bao gồm những tuyên bố dựa trên phương pháp giả tạo vốn chỉ là tên gọi mà thôi; sự ‘vướng mắc’ không thể thay đổi giữa tự nhiên và nuôi dưỡng nhằm nêu lên bản chất đố mà hiểu thấu rốt ráo do đó, cởi bỏ ‘bản chất tinh tuyền’ để được thảo luận đầy đủ chi tiết, một kỵ sĩ không thèm đôi co với bằng chứng thực nghiệm khó khăn mới chiến thắng nổi, dù sở hữu thiên hướng động não giỏi giang; tiềm năng ma mãnh của ‘tạo mẫu rập khuôn’ và ‘các mô hình vai trò’; một quyền lực bất chấp logic để dựng lên những điều bí hiểm trong tâm lý của cái rỗng không, như trong ‘xã hội hóa’ và ‘trao quyền’; gán ghép các cơ chế mà thậm chí không mấy tin tưởng: làm nhiều việc cùng lúc, lòng tự trọng, đe dọa rập khuôn; những phàn nàn về ‘sự việc gây tranh cãi’ và ‘có dụng ý, động cơ’ tựa như khoa học xã hội đích thực nhưng thực sự thì giả dối về mặt khoa học. Chính sách thoát- ly- khoa- học kiểu như thế là do vận động hành lang, được gán cho giả thuyết ‘định kiến và rào cản’ và một sự chối bỏ tiền nghiệm về khoa học của những khác biệt giới tính chẳng hạn.

Sự rối rắm này coi thường giá trị khoa học, song nó lại không hề bị đối xử như ý kiến đối lập với khoa học; trái lại, về mặt tâm lý và xã hội học, nó có một tiếng nói cực kỳ ảnh hưởng và gây tác động mạnh mẽ hơn địa vị khách quan được đảm bảo của chính nó.

Bi hài và thực trạng gì thì chí ít nó đang hiện diện. Song, dưới quan điểm dài hạn, vô tư của bản chất con người như sản phẩm của công trình chọn lọc tự nhiên, một viễn cảnh rộng lớn hơn đang mở ra. Và điều đó gây ấn tượng cho chúng ta về đặc ân được sống trong thời điểm của các giá trị Phục hưng, phương thức hiếm hoi, cục bộ, các giá trị gần đây trong lịch sử hai triệu năm cũng như đấy là các giá trị thuộc bản chất của giống loài chúng ta sẽ tiếp tục được bồi dưỡng. Đóng góp của Darwin trong sự hiểu biết của chúng ta về chính bản thân mình là điển hình cho tiến bộ nhân loại, một lý tưởng thần kỳ không chỉ của khoa học mà cả dí sản văn hóa rộng lớn hơn là các tư tưởng Phục hưng.

Hiểu biết sự phân biệt giữa tính khách quan tự trị của thế giới các ý tưởng và trạng thái hết sức khác của tâm lý và xã hội, chúng ta có thể lượng định giá trị đích thực của khoa học. Và khi ghi nhớ nằm lòng viễn tượng sâu xa ấy, chúng ta sẽ ít lo lắng hẳn đi về những nỗi sợ hãi thiếu cân đối, không tương xứng này.

Làm thế nào để mở lòng ra thành thật?

Mới ngoài 20, thích giao tiếp và nhìn đời tích cực. Người luôn tràn đầy nhiệt huyết song một tháng trở lại đây thì đâm lo lắng, mất kiên nhẫn và cáu gắt; muốn ở riết trong nhà, không đi ra ngoài nữa vì nghĩ sẽ gặp đủ chuyện lắm người khiến mình bực bội; ngay cả bạn bè thân thiết nói làm gì cũng gây cho bản thân tức giận hoặc khó chịu. Biết là vấn đề nằm ở mình; bắt gặp bản thân nghĩ điều sai trái kiểu bạn bè chẳng còn thích mình nữa; tưởng tượng như có quả bóng lo lắng lớn dần lên trong lòng. Cảm thấy mệt dù không ngủ được, nằm trằn trọc suốt, và lúc nhắm mắt lại nhớ các tình huống tồi tệ và buồn bã.

Hôm nay thì kinh khủng khiếp. Định chỉ gặp mỗi bố để đi dạo cho khuây khỏa thế mà cuối cùng lại bắt điện thoại nghe một số lạ gọi tới… Thấy người rung lắc nhẹ, vài dấu hiệu cảnh báo lan khắp cơ thể và tim như nổ bùng song khi kiểm tra mạch thì khá bình thường. Hủy hẹn. Sau đó thấy quả bóng to đùng trong lòng bắt đầu lục bục rồi nước mắt chảy dài… Không nghĩ nên gặp bạn bè để khuây khỏa trở lại, vì e ngại người ta sẽ nhìn mình giống kiểu mình thích ở nhà vậy. Xấu hổ nhờ bạn bè khuyên nhủ hoặc giải thích giúp về tình trạng. Chưa từng thế này bao giờ nên sợ không thể kiểm soát thân thể lẫn cảm xúc. Thường tự đánh giá mình là kẻ độc lập, thực tế và tính cách mạnh mẽ; quen âm thầm xử lý các vấn đề cùng tình huống phát sinh rất hiệu quả.

… Nghe như người này đang đương đầu với cả trầm cảm và lo âu. Các triệu chứng bao gồm sự phấn khích tâm vận động (bồn chồn và mất tinh thần), khó ngủ say, giảm thiểu mối quan tâm với các hoạt động hàng ngày, và với đối tượng trẻ hơn, dễ cáu kỉnh. Thứ ‘cảm xúc kỳ lạ’ lưu ý khi nghe điện thoại giống như nỗi sợ bị tấn công vậy, thường gồm biểu hiện là tim đập thình thịch, người rung lắc, cơ thể nóng sốt, và sợ mất kiểm soát.

Nhiều người chưa từng trải qua các rắc rối tình cảm trước kia đột ngột thấy mình đang kinh nghiệm, đặc biệt khi họ tiếp chạm giai đoạn đầu trưởng thành. Đây là giai đoạn phát triển mang tới rất nhiều thay đổi ấn tượng bởi vì sự quá độ từ tuổi thơ và nhà trường sang tuổi trưởng thành và đi làm nên không ngạc nhiên lắm đòi hỏi thích nghi.

Các cảm xúc phiền muộn không có gì tội lỗi cả; chúng là sự kiện đời sống với rất nhiều người. Điều quan trọng giúp mình vượt qua giai đoạn khó khăn này là với tay ra và đề nghị trợ giúp. Tha nhân có thể cũng trải qua tương tự nên có thể đưa lời khuyên về cách thức xử lý; cũng có thể tham gia các nhóm tham vấn hoặc trị liệu cá nhân nếu thấy phù hợp.

Điều tồi tệ nhất là duy trì sự cô độc và tách biệt nội tâm cũng như ỳ ra, không làm gì như lơ là ăn uống do trầm cảm và lo âu. Nếu mình cứ đớn đau mãi thế thì tình hình sẽ càng thêm tồi tệ, chứ khó tốt hơn lên. Sơ khởi, có nhiều kỹ thuật hành vi làm giảm thiểu các triệu chứng trầm cảm và lo âu. Vấn đề chỉ là làm sao tìm ra chúng.

Ví dụ khác. Suốt thời trẻ, theo bố di chuyển và đi du lịch rất nhiều nên không gắn bó ai quá lâu. Chưa từng nhỏ lệ hoặc phải quan tâm cảm xúc quá mức; chỉ không nhận thấy tầm quan trọng của chúng trong những gì đang làm, cũng không thật thấy chúng giúp ích cho bản thân trong dài hạn. Thi thoảng khi biểu đạt cảm xúc ra xong rồi thì chỉ cảm thấy tồi tệ; thất vọng với bản thân khi bày tỏ chúng, ngay cả với riêng mỗi mình thôi.

Năm mới lên 12 tuổi, bố mẹ đã bảo là lạnh lùng, xa cách và đố mà ai ưa nổi chứ nói gì chuyện lấy được chồng. Hầu hết thành viên trong nhà và vài người bạn còn thấy có vẻ hăm dọa và đáng sợ. Tầm năm, sáu năm gần đây thì làm việc cởi mở hơn hẳn, thành người thân thiện nhờ đi theo các bước hướng dẫn đọc được trong các cuốn sách tự trợ (mỉm cười, gặp gỡ người tích cực, cười thoải mái, v.v…). Song việc cởi mở ấy chỉ làm mọi sự ổn thỏa ngắn hạn, vì để lại trong lòng mình rất nhiều cô độc hơn trước đây, là nguyên nhân khiến bố con lại tự dưng đâm cãi vã nhau. Song phải thừa nhận là tuy việc cởi mở bản thân tuy đem lại tiến bộ thật, nó dần tao nên sự đứt gãy về mặt cảm xúc, thậm chí ít tin tưởng vào người xung quanh.

Biết không hay ho, đúng đắn chút nào vì chẳng tin tưởng hoặc thể hiện cảm xúc ‘thật’ với người khác. Song hiện tại chưa tìm thấy cách hàn gắn, kết nối hay các bước phải thực hiện nhằm giúp bản thân cởi mở hơn, thậm chí vá sửa các vấn đề không mong muốn nảy sinh vì nỗ lực cởi mở.

… Thật vui vì nhân vật khao khát cởi mở hơn nữa với người khác. Có vẻ đấy đã là một tiến trình hết sức hụt hẫng, chắc bởi vì chưa chạm tới tâm điểm của vấn đề. Có thể người này bị xem là bắt chước hành vi chứa cảm xúc (mỉm cười, cười thoải mái) chứ không đích thị đem lại cảm nhận về chúng và thiên hạ thường hay đáp ứng kiểu thế (các khóa học kỹ năng mềm áp dụng chiêu tương tự). Đối tượng tiếp xúc có thể nghĩ mình thiếu thành thật, thậm chí, nhạo báng họ.

Bước đầu tiên chỉnh sửa là dừng biểu tỏ các cảm xúc ghê gớm. Thực tế, cảm xúc rất quan yếu; chúng cung cấp cho ta thông tin về bản thân và về môi trường xung quanh cũng như chỉ bày cho ta cách để kết nối thật ý nghĩa với những người khác. Cảm xúc còn giúp cơ thể mình mềm mại, tươi mát. Nếu đè nén cảm xúc quá lâu, cơ thể sẽ báo động trục trặc. E chừng đây chính là chỗ nhân vật đang trải qua. Do chôn giấu cảm xúc lâu quá đến độ giờ không biết làm sao để tiếp cận với chúng.

Các cảm xúc thường gây cho mình cảm giác tồi tệ vì chúng có thể đau đớn và khiến mình dễ tổn thương. Có thể hình dung là do bảo bọc bản thân tránh khỏi nguy cơ bị tổn thương mà mình quyết định ngay từ đầu là ngắt tách cảm xúc liền thôi. Trong khi đấy có thể là giải pháp tự vệ hữu ích ngắn hạn, nó có thể gây tàn phá nặng nề lâu dài về sau vì không có sự cân bằng. Mình có thể không thích cảm nhận các cảm xúc đau đớn song đóng sập chúng cũng có nghĩa là mình không cảm nhận được các cảm xúc tốt lành luôn. Cảm xúc dễ là điều kỳ diệu, cho mình trải nghiệm đam mê, tình yêu và niềm vui, và chúng còn cho mình cách thức phát triển các mối quan hệ đầy thỏa mãn sâu xa. Tuy thế, điều ấy kèm theo một số nguy cơ vì cảm xúc có thể và hay là nguyên nhân gây đau khổ; lý giải tại sao cảm nhận cảm giác và thậm chí, biểu đạt chúng không khiến mình yếu đuối nếu không muốn nói là làm mình mạnh mẽ thêm vì ước ao cảm nhận chúng bằng bất cứ giá nào. Ví von, dũng cảm chẳng phải là vắng mặt sợ hãi mà là làm mọi điều cần thiết phải thực hiện.

Bước kế tiếp là cho phép bản thân cảm nhận các thang bậc tình cảm khác nhau. Dành thời gian và không gian để mình có thể nghĩ về các ký ức riêng biệt (hạnh phúc, buồn bã, đáng sợ…) rồi cảm nhận về chúng. Để bản thân mình khám phá mỗi một cảm xúc ứng hiện trên cơ thể mình. Ghi nhật ký cách cảm nhận ra sao ký ức hoặc các cảm xúc. Nói với người hiểu biết về các cảm xúc của mình (một nhà tham vấn sẽ là lý tưởng để giúp mình tiến trình này). Hoàn thành nhiều lần để các cảm xúc dần trở nên tự nhiên. Khi làm thế được rồi, có thể tưởng tượng người khác cảm nhận ra sao rồi dùng các quan sát mới mẻ này khi trò chuyện. Hãy để mọi người biết cách mình cảm nhận mọi thứ. Hỏi họ về các cảm xúc của họ và xem xem mình có thể tìm thấy một vài điểm chung… Các quan hệ vững bền được xây dựng trên việc trao đổi qua lại các cảm xúc; đấy gọi là sự thân mật cảm xúc và nó có thể vô cùng vui vẻ, hồ hởi.

Có lẽ, khi mình đủ khả năng tạo dựng sự thân mật về mặt cảm xúc, trạng thái  cởi mở với mọi người sẽ đến từ lòng mình sâu xa chứ không phải cái đầu tính toán.

Thái độ bảo thủ chính trị duy trì như một dạng điên nhẹ?

Đội ngũ những người quản lý các lĩnh vực kinh tế- xã hội ở Việt Nam tỏ ra chê bai trình độ dân trí nước nhà ngày càng đông đảo; nhiều tuyên bố lạ lùng và lắm phát ngôn trên nghị trường gây sốc khủng khiếp đối với công luận, không ít tuổi tên chính trị gia bị gắn với tục danh mang tính dè bỉu lẫn khinh bỉ; vô số hành động xử lý, ra quyết định chẳng hề giống ai, xa lạ quá chừng thế giới văn minh, v.v…

Chủ đề chính trị và bệnh tâm thần có thể được minh họa lịch sử từ cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789, bởi vì nó làm cho tinh thần quốc gia thêm cường tráng, song với nhiều người tham gia thì niềm vui trở thành cơn mê sảng (delirium).

Theo nghiên cứu, chủ nghĩa bảo thủ là một dạng điên khùng (insanity) nhẹ. Một phân tích gộp chọn từ 88 mẫu ở 12 quốc gia với 22.818 đối tượng đã vén lộ “nhiều biến số tâm lý dự báo chủ nghĩa bảo thủ về chính trị”. Các biến gồm: sợ chết, hệ thống bất ổn, giáo điều về sự nhập nhằng, tâm trí nhỏ hẹp, thiếu khoan dung về trạng thái không chắc chắn, nhu cầu cao về tính thứ bậc (bộc lộ nhận thức), cấu trúc, phức hợp thống nhất thấp, lo hãi bị đe dọa và mất mát, và kém tự tin. Nhóm tác giả kết luận khá chua chát rằng “ý thức hệ căn cốt của chủ nghĩa bảo thủ nhấn mạnh việc kháng cự với thay đổi và biện hộ cho sự bất bình đẳng”.

Không những chẳng hay ho gì lắm, người ta đang nói tới ai đó đầy sợ hãi, với cảm quan cái tôi nghèo nàn, và vắng thiếu tinh thần linh hoạt. Khoan dung với mơ hồ, nhập nhằng là điểm tâm lý đặc biệt sáng giá ở người trưởng thành vì thế giới nào chỉ có hai màu đen, trắng. Theo nghiên cứu trên, người bảo thủ sở hữu cơ bản phẩm tính ngược lại: không khoan dung với mơ hồ và không có khả năng giải quyết điều phức tạp.

Các nghiên cứu khác còn khẳng định, khi vắng bóng nỗ lực suy tư đầy cân nhắc thì ý thức hệ bảo thủ càng tăng lên; năng lực nhận thức và chủ nghĩa bảo thủ tương quan nghịch. Nghĩa là, nỗ lực tinh thần sút giảm thì làm tăng các niềm tin bảo thủ; tức các thuộc tính trách nhiệm cá nhân (đối lập việc nhận ra ảnh hưởng của các yếu tố tình huống), chấp nhận thang bậc và khung tham chiếu giữ nguyên trạng có thể được xem là dấu ấn của niềm tin bảo thủ.

Các phát hiện của chúng tôi khẳng định những lối tư duy bảo thủ là căn bản, bình thường và khá tự nhiên, nhóm nghiên cứu khẳng định. Các yếu tố động cơ thúc đẩy là những xác quyết chủ yếu của ý thức hệ, trợ giúp hoặc chỉnh sửa các đáp ứng ban đầu phụ thuộc vao mục tiêu, niềm tin, và giá trị của người ta…

Dù tiếp cận từ các góc độ xã hội học, phương pháp luận, thành phần cấu trúc và triết lý thì bảo thủ chính trị vẫn còn đáng xem xét thấu đáo, chẳng hạn cụ thể về khía cạnh chủ động tạo áp lực xã hội, toàn trị, v.v…

Khi nỗi sợ biến bé thành đứa trẻ ngỗ ngược, khó ưa…

Câu hỏi của độc giả làm tôi muốn chia sẻ sâu thêm về nỗi sợ hãi có thể biến trẻ nhỏ thành đứa ngỗ nghịch, bạo ngược khó ngờ.

Hầu hết chúng ta chống chọi với nỗi sợ bằng cách này hoặc cách khác. May mắn, đa phần chúng ta học được cách sống với hoặc vượt qua chúng ở một phạm vi kiểm soát nhất định mà không bị quá nhiều ảnh hưởng nặng nề.

Song nếu nỗi sợ của người ta dễ thuộc bản chất gây tê liệt thì khi sự vụ xảy đến, sống với nỗi sợ tương tự như sống với một tên bạo chúa vậy: đòi hỏi quá mức ảnh hưởng tới mỗi một hành động. Hơn thế, thường bắt gặp các thành viên khác trong gia đình cũng cảm thấy như đời mình đang bị khống chế ghê gớm lúc người thân trải qua sức ép do nỗi sợ làm tàn tạ. Rồi khi, thông qua nỗ lực đầy ý nghĩa đặng giải quyết thật tốt lành cùng người sợ hãi, các vị khác cảm nhận việc đang sống dưới ách chuyên chế hơn lên do đã ‘cho phép’ một cách vô ý khiến nỗi sợ dai dẳng thêm hoặc thậm chí còn tiếp tục leo thang.

Trẻ em có thể đương đầu với nhiều lo âu và sợ hãi xuyên suốt thời kỳ tuổi hoa. Rất nhiều bé dường như trải qua các giai đoạn muốn thoát khỏi hoặc chiếm ưu thế đủ dạng nỗi sợ nọ kia đến độ việc chống kháng nỗi niềm sợ hãi trở thành hợp phần tự nhiên của sự phát triển.

Song lắm khi trẻ dần bị chốt khóa trong vòng kiềm tỏa của nỗi sợ gây liệt kháng khủng khiếp khiến chúng hống hách, làm chúa tể ở nhà mình. Ví dụ, trẻ đang trải qua cơn sợ côn trùng biết bay (do đó, không dám liều ra ngoài mùa sâu bọ sinh sôi) có thể dẫn đến kết cục phá vỡ chuyến đi chơi công viên của cả nhà. Trẻ sợ động vật có thể làm gia đình mất vui khi bố mẹ bố trí xem xiếc thú. Trẻ e ngại các trò cưỡi lái dễ biến ngày nghỉ du ngoạn cuối tuần thành trải nghiệm tồi tệ, nhất là với bố mẹ và người chịu trách nhiệm trông nom, vì các cơn tam bành và hành vi né tránh của chúng.

Khi nỗi sợ gây liệt kháng, hầu như mọi người liên quan đối tượng đang sợ đều bị ảnh hưởng, và đời sống chợt rắc rối với tất cả. Điều tương tự cũng xảy ra trong các gia đình khi một thành viên bị cơn nghiện vây khốn rồi cơn nghiện rốt ráo khống chế ít nhiều đời sống của mọi người trong nhà (ý nghĩa của cái gọi là ‘làm khổ lẫn nhau’/ codependency).

May thay, tin tốt lành là nỗi sợ hãi và cơn lo âu nằm trong số trục trặc tâm lý có thể trị liệu được. Hiện có nhiều cách tiếp cận ‘nỗ lực và xác thực’ mà thảy đều đem lại tỷ lệ thành công tốt đẹp; một giải pháp mỹ mãn quen thuộc là phơi nhiễm (exposure).  Để vượt thắng một nỗi sợ, mình buộc phải đối đầu rốt ráo, bất kể nỗi sợ vốn khó định hình thật thấu tỏ (vốn là điều thuộc về lo âu) hoặc nỗi sợ là điều gì đó cụ thể hay tình huống riêng biệt (ám sợ gán nhãn). Kiên trì phơi nhiễm bản thân với thứ thường né tránh và cho phép mình trải nghiệm sự kiện rằng các hậu họa ghê gớm mình quen tưởng tượng đã không xảy ra là cách hay nhất làm giảm thiểu hoặc thậm chí dần tiêu trừ đáp ứng đầy sợ hãi. Bây giờ để người ta đối đầu với những gì thích né tránh là chuyện rất thách thức, vì thế, nói chung, việc chỉ thành tựu ‘một cách có hệ thống’; dùng lối tiếp cận sao cho người ta ngày càng dễ tiến sát gần hơn với điều họ sợ nhất, để họ cảm thấy an toàn ở mỗi một bước nhỏ tiến bộ, tuần tự ‘giải mẫn cảm’ họ trước các tình huống khơi dậy nỗi niềm sợ hãi.

Các phương pháp phơi nhiễm khác dùng cách thức mãnh liệt và ngay liền hơn, như độ căng thể hiện trong kỹ thuật ‘nhâm ngúng’ (immersion) và ‘ngập tràn’ (flooding). Trong khi người lớn khá sẵn các nguồn lực để giải quyết với các cách tiếp cận mang tính đụng độ sát sườn thế, trẻ em quá nhạy cảm để rồi chúng dễ làm bản thân thân tổn thương hơn, do đó, rốt cuộc chỉ tổ làm tăng thêm nỗi niềm sợ hãi. Đứa trẻ nào cũng tự nhiên cưỡng lại bất kỳ nỗ lực phơi nhiễm, nhất là lúc ban đầu, nên quan trọng là khởi sự đơn giản thôi rồi củng cố sự già dặn dần bằng mỗi một bước nhỏ tiến tới. Có lẽ, mưu mẹo nhất để giúp trẻ vượt qua nỗi sợ là đồng thời xử lý cách thức các thành viên khác trong gia đình sơ xuất ‘gây nên’ nỗi sợ làm trẻ càng nảy bật lảng tránh khiến kéo dài thêm điều khó chịu.

Giúp trẻ đương đầu và tuần tự vượt qua sự suy yếu do nỗi sợ đòi hỏi điều nôm na ‘lòng thương yêu cứng rắn’, trong khi mình không những luôn luôn thể hiện mối quan tâm mà còn lưu ý không củng cố các ý niệm rằng thực tế có điều gì sợ hãi đang tồn tại hoặc cách an toàn là tránh tình huống làm trẻ sợ hãi. Và đó đích thị những gì xảy đến khi người trong nhà chấm dứt việc mua vui bằng việc dọa trẻ.

Trẻ em vượt thắng các nỗi sợ và ám ảnh của bản thân với lối trị liệu đúng đắn thường được hưởng nhiều lợi lạc khác. Khi tăng lên khả năng đối đầu các tình huống chúng thường quen né tránh mà không cảm thấy tê liệt, trẻ căn bản cảm thấy vừa quyền làm chủ vừa hiệu lực vào bản thân. Chúng không chỉ dần điềm tĩnh vì nỗi sợ lắng xuống mà còn tự tin hẳn. Trẻ cũng học hỏi được cách biết nhắm tiêu điểm tập trung đời mình. Không còn bị nỗi sợ kiểm soát nữa, trẻ cảm thấy cần tự chịu trách nhiệm đảm đương nhiều hơn.

Các thành viên gia đình khác trải nghiệm lợi lạc tích cực tương tự. Không còn bị nỗi sợ hãi kiềm nén từng gây phiền phức cho trẻ nhỏ, họ thoải mái khỏi kinh qua vô vàn chiêu trò ngạo ngược của tiểu bạo chúa trong nhà.

Quyết định đầu năm: tính sao giữ được?

Căng tròn mộng xuân tình, linh tinh đời hóng hớt...
Căng tròn mộng xuân tình, linh tinh đời hóng hớt…

Theo thói quen hí hửng trong bầu không khí khởi sự tưng bừng đầu năm mới, thiên hạ thường hay đưa ra các lời hứa, quyết định đầy tâm huyết.

Bất chấp thực tế là rất nhiều dự tính chỉ hoàn công cốc, tầm một nửa (46%) số người tuyên bố quyết tâm đầu năm đã thành tựu trái quả tốt lành xoay quanh việc thay đổi hành vi lành mạnh như mong muốn.

Nghiên cứu từ thập niên trước phát hiện ra 5 chiến lược tiến hành triển khai các quyết tâm đầu năm đạt kết quả tích cực; cụ thể:

1. Ý chí

Không có gì đáng ngạc nhiên là những ai đạt được các lời hứa đầu năm ở mốc 6 tháng thì đều nói tới vai trò của ý chí.

2. Duy trì sự phấn khích

Người thành công thường để ý làm sao cho các đồ vật ở xung quanh nhắc nhở mình lưu tâm tới điều đã tuyên bố. Đây cũng là lý do tại sao dán các mảnh giấy, minh họa be bé ở tủ lạnh, đầu giường, góc tường hoặc trong nhà vệ sinh chứng tỏ hữu hiệu.

3. Né tránh

Đôi khi đơn giản là không đưa mình vào các tình huống dễ làm đổ vỡ lời hứa, kiểu muốn bỏ thuốc lá thì không tới khu vực các tay ghiền hay phì phèo. Thay vì thử thách ý chí bản thân, vấn đề sẽ được giải quyết nhờ việc lờ đi.

4. Trông chừng chuyện củng cố

Bí quyết nằm ở chỗ dùng vài ba phần thưởng nhỏ nhặt để củng cố thêm hành vi chắc vững hơn lên.

5. Suy nghĩ tích cực

Người nào giữ được quyết định đầu năm thì thường tỏ thái độ tích cực về năng lực bản thân và ước ao thay đổi các hành vi mình không ưng thích kéo dài nữa.

Nghiên cứu thượng dẫn cũng cho thấy các chiến lược khiến nhiều người thất bại, bỏ dở lời đã xác lập đầu năm mới, trong đó họ nêu bật việc tự đổ lỗi và lối tư duy dạng ước gì, giá như…

Câu hỏi làm thế nào để vận dụng tâm trí tốt nhất cho việc đạt được các lời hứa đầu năm còn chỉ ra một số mẹo mực thực hiện rất sáng giá và dẫn tới kết quả ngoạn mục. Chẳng hạn, có thể kể 5 chiêu thức cơ bản dưới đây.

1. Theo đuổi mục tiêu thôi là chưa đủ

Tâm lý học động cơ, dưới cái nhìn truyền thống, nhắm vào việc thúc đẩy người ta theo đuổi mãnh liệt các mục tiêu đã cam kết.  Nó giả định rằng người ta trông nom sao cho càng bám thật chặt các mục tiêu đã tuyên thì khả năng rất cao họ dễ chạm đến được các mục tiêu ấy.

Tuy vậy, trong 15- 20 năm gần đây, các nhà nghiên cứu khẳng định, người ta có thể làm nhiều hơn việc chỉ theo đuổi mục tiêu thôi; họ có thể dùng tâm trí để cải thiện một cách chiến lược trên tiến trình nỗ lực chiếm lấy các mục tiêu.

2. Hướng việc lập kế hoạch cho mục tiêu thành lập kế hoạch hành động dạng “nếu- thì”

Lập kế hoạch là điều tiên quyết nếu muốn đat được các quyết tâm đầu năm. Bẻ gãy hoặc kiến tạo các thói quen như bỏ thuốc lá và bắt đầu tập thể dục hàng ngày hoặc bất kỳ mục tiêu nào mình có thể tưởng tượng. Hàng trăm nghiên cứu hỗ trợ ý tưởng việc lập kế hoạch dạng ‘nếu- thì”, tức việc thực hiện và triển khai các dự tính (pp.162- 185), cũng là dạng lập kế hoạch có thể làm cho các cơ hội thành công tăng gấp đôi, gấp ba.

Khi kết nối ‘lúc nào’ với ‘ở đâu’ để biết cách vận dụng câu dạng “nếu- thì” thì mình sẽ dễ đạt được các hiệu ứng như mong đợi. Tỷ dụ, nếu muốn giảm cân, kế hoạch nếu- thì có thể là: Nếu tối muộn ở nhà tôi thấy thèm đồ ngọt thì tôi sẽ có sẵn một tách trà nóng thư thái pha với chút thìa mật ong.

3. Tạo ra hầu hết các kế hoạch dạng “nếu- thì” thể hiện sự trái ngược về tinh thần

Hình thức triển khai các dự tính tốt nhất, thông qua việc dùng một phương pháp gọi là đối lập tinh thần nhằm tìm ra các tình huống nào căn bản rồi gắn chúng với các đáp ứng mang tính công cụ tập trung vào mục tiêu.

4. Động cơ và cảm xúc làm xảy đến mọi điều

Động cơ cần có mặt đúng chỗ, nếu không việc lập kế hoạch “nếu- thì”không hiệu quả. Các mục tiêu kéo dài cả năm đòi hỏi mình phải theo dõi sát sao và không thể thiếu được động cơ thúc đẩy, tiếp thêm nhiên liệu. Tương tự, cảm xúc tích hợp trong vòng quay động cơ có thể gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới các kế hoạch “nếu- thì”, gắn với mục tiêu. Ví dụ, người phụ nữ muốn phàn nàn với quản lý về việc cô ta không muốn bị đuổi việc, vì vậy cần đảm bảo sự vụ không bị đẩy đi quá xa.

5. Nhận ra việc dùng các mục tiêu tự định hình bản thân

Dạng muốn thấy mình là ông bố tốt hoặc nhà khoa học tài ba, và với các mục tiêu này khi mô tả với người khác những gì dự tính thực hiện hoặc cần đạt được thì động cơ có thể bị hạ thấp.

Hiểu biết về nhận thức xã hội giúp mình dễ tìm cách truyền thông các dự tính mà để rồi sẽ có thể tạo nên cảm nhận hoàn thành song lại không đe dọa động cơ.

Sự yếu đuối của ý chí có thể được xử lý, điều chỉnh trên tiến trình đạt được các quyết định đầu năm; góp phần giúp người ta thànhh tựu tích cực nhờ trực tiếp nhắm vào các thách thức và cơ hội…